Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ THỂ CHẤT TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái niệm về quản lý Karl Marx đã nói "Tất cả các lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng". Quản lý là một hiện tƣợng xã hội, nó xuất hiện nhƣ một yếu tố cần thiết để nhằm phối hợp những nỗ lực cá nhân hƣớng tới mục tiêu chung.
Hoạt động quản lý ra đời từ rất sớm nhƣ là một yếu tố khách quan mang tính tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội. Có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên đã dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về "quản lý". Sau đây là một số những qua niệm của các học giả trong và ngoài nƣớc về "quản lý": - Theo Karl Marx: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó. Qua quan niệm này chúng ta thấy Marx đã lột tả đƣợc bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài ngƣời.Taylor (1856-1915) - ngƣời đề xuất thuyết "Quản lý khoa học" cho rằng: quản lý là biết đƣợc điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Theo các nhà khoa học Harold Koontz - Cyril Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng: "Quản lý đƣợc hoàn thành thông qua con ngƣời. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học". Afanaxev: "Quản lý con ngƣời có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng đƣợc những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân" Quan điểm của một số tác giả trong nước Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô đến tầm vi mô. Có nhiều cách tiếp cận, vậy có thể là có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý.
- Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: "Quản lý là sự tác động có mục đích của cán bộ quản lý đối với tập thể những con ngƣời, nhằm làm cho hệ thống hoạt động bình thƣờng, giải quyết đƣợc nhiệm vụ đề ra". - Tác giả Nguyễn Quang Học lại định nghĩa: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến"[34]. - Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: "Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định". - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: "Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức".
- 10 - z Qua những quan niệm về quản lý nêu trên chúng ta nhận thấy các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhƣng tất cả đều toát lên những điểm chung nhất về quản lý nhƣ sau: Quản lý: - Là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định. - Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc những mục đích của nhóm. - Là phƣơng thức hoạt động tốt nhất để một nhóm, một tổ chức đạt đƣợc mục tiêu chung. Bản chất của quản lý Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đến một hiệu quả mong muốn.
Khi xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, đa dạng, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu suất lao động. Chức năng quản lý Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức thông qua những tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp. Qua các công trình nghiên cứu khoa học quản lý mặc dù còn có những ý kiến chƣa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý, song cơ bản đã nêu ra đƣợc 4 chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra.
- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, đƣợc hiểu khái quát là một chƣơng trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý đƣợc xây dựng căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể và - 11 - z đƣợc hoạch định, lập ra trƣớc khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. - Tổ chức: là sự sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học nhất những yếu tố, những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu. - Chỉ đạo: là phƣơng thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của ngƣời lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động tối ƣu mọi lực lƣợng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cƣơng trật tự.
- Kiểm tra đánh giá: là biện pháp tác động của chủ thể lên khách nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của tổ chức, so sánh mục tiêu và toàn bộ kế hoạch xem đạt đến mức độ nào. Thông qua kiểm tra, chủ thể quản lý thấy đƣợc những ƣu điểm cũng nhƣ nhƣợc điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có các biện pháp điều chỉnh, xử lý, uốn nắn, phát huy kịp thời và rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành. Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch, là huyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi nhƣ không có kiểm tra, không kiểm tra coi nhƣ không có hoạt động quản lý. Trong hoạt động quản lý, thông tin giữ một vai trò huyết mạch trong việc thực hiện có hiệu quả các chức năng quản lý.
Thông tin vừa đƣợc xem là phƣơng tiện, vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý. Thông tin là huyết mạch của quản lý. 4 chức năng cơ bản trong quản lý có quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, - 12 - z tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cùng các yếu tố là thông tin và quyết định. Có thể biểu diễn sự liên kết các chức năng đó bằng sơ đồ sau: Kế hoạch hoá Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý 1.
Các nguyên tắc quản lý Quản lý tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục .) thực chất là quản lý con ngƣời hoạt động trong tổ chức đó. Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải dựa vào những nguyên tắc quản lý nhất định, thƣờng tập trung vào các nguyên tắc cơ bản sau: - Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý đƣợc xây dựng trên cơ sở những quy định, luật pháp và các chế tài của pháp luật. Chẳng hạn, các văn bản dƣới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục, các văn bản chỉ đạo việc thực hiện chƣơng trình. Đây là những hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nƣớc, dựa trên các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của nhà nƣớc, các văn bản chỉ đạo của ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản lý.
- Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lý một cách hiệu quả, khoa học bởi nó thể hiện đƣợc sự kết - 13 - z hợp chặt chẽ quyền lực của chủ thể quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tƣợng quản lý trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống đƣợc tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đƣờng lối, chủ trƣơng, phƣơng hƣớng, mục tiêu tổng quát, đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối đó. Nguyên tắc tập trung thể hiện bởi chế độ một thủ trƣởng. Dân chủ trong quản lý đƣợc hiểu là: phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động trí lực, tâm lực của họ trong việc hoàn thành tốt nhất kế hoạch, mục tiêu đề ra.
Dân chủ đƣợc thể hiện qua việc tập thể đƣợc tham gia bàn bạc, đóng góp xây dựng về các chỉ tiêu, kế hoạch hành động cũng nhƣ có những đề xuất kiến nghị các biện pháp trƣớc thi đƣa ra thực hiện.