chương 1 tác giả luận án bàn về cơ sở lý luận của GDPL với 03 tiết: 1) Bản chất, phân loại GDPL; 2) Cấu trúc của GDPL và 3) Chức năng của GDPL. Theo tác giả, bản chất của GDPL là quá trình định vị một cách bền vững những nguyên tắc, tư tưởng pháp luật vào trong ý thức pháp luật của đối tượng được giáo dục. Chương 2 luận án với tiêu đề “Khía cạnh tổ chức GDPL trong xã hội Nga đương đại” gồm 4 tiết được dành để bàn về 1) Hệ thống xã hội hóa GDPL trong xã hội Nga đương đại; 2) GDPL trong tiếp cận với các nhóm xã hội khác nhau; 3) GDPL trong hệ thống định hướng nghề nghiệp cho các luật gia hiện nay; 4) Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lại về pháp luật. Theo tác giả, giáo dục lại về pháp luật là một quá trình phức tạp hơn, bởi nó hướng tới khắc phục những phán đoán, đánh giá sai lầm của cá nhân, nhắm tới sữa chữa các hành vi xử sự tiêu cực, ảnh hưởng bất lợi đối với con người.
Inpeng Younkham, Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Bolykhamsay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [33]. Cơ cấu dân tộc của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có 68 bộ tộc, chia làm 3 hệ chính là Lào Lùm chiếm 65% dân số; Lào Thâng chiếm 22% và Lào Xủng chiếm 13% dân số; ngôn ngữ Lào gồm 04 nhóm ngôn ngữ. Từ thực tế đó, tác giả khẳng định việc GDPL cho đồng bào các DTTS, trong đó có các DTTS ở tỉnh Bolikhamsay, là công việc có vai trò rất quan trọng nhằm trang bị cho đồng bào các DTTS của Lào những kiến thức, hiểu biết pháp luật, hình thành ý thức chấp hành pháp luật. Luận văn đã tập trung phân tích cơ sở lý luận về GDPL cho đồng bào DTTS của Lào; đánh giá những thành tựu, hạn chế của công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở tỉnh Bolikhamsay, nêu lên các quan điểm và lập luận những giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả GDPL cho đồng bào DTTS ở tỉnh Bolikhamsay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu có cùng chủ đề GDPL, như: Babaieva V., Tập bài giảng Lý luận chung về pháp luật[31]; Krưgina I., Văn hóa pháp luật, giáo dục pháp luật và quản lý quá trình giáo dục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn pháp luật trong xã hội Nga hiện nay[32]; Pochtar T., Giáo dục pháp luật trong các trường đại học sư phạm: những vấn đề phương pháp luận và phương pháp[30]. Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây ở những mức độ khác nhau đã đề cập, bàn luận về khái niệm, bản chất của GDPL, các yếu tố cấu thành GDPL; về vấn đề quản lý GDPL ở nước Nga hiện nay. Vào tháng 6/2006, tại Paris, Cộng hòa Pháp đã diễn ra Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Hội luật gia dân chủ quốc tế. Trong Chương trình nghị sự của Hội nghị này đã có 01 cuộc Hội thảo với chủ đề “Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa” (Legal Education in the Age of Globalization) thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức luật gia đến từ nhiều nước trên thế giới; tập trung bàn luận về tính cấp thiết, sự cần thiết phải đa dạng hóa các phương thức GDPL cho các tầng lớp xã hội ở mỗi quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa; nội dung GDPL không chỉ là pháp luật quốc nội của mỗi nước, mà còn phải phổ biến, giáo dục các nội dung pháp luật quốc tế [8].
Trong khuôn khổ Đại hội lần thứ X Hội Luật gia ASEAN (ALA) được tổ chức từ ngày 14/10 - ngày 18/10/2009 tại Hà Nội, một cuộc Hội thảo lớn với chủ đề “Hiến chương ASEAN - đưa ASEAN lên những tầm cao mới” cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề GDPL [7]. Trong hợp phần đầu tiên của Hội thảo “Tác động của Hiến chương ASEAN tới hệ thống giáo dục pháp luật của các nước ASEAN” đã có một loạt các báo cáo nghiên cứu về tình hình GDPL và đào tạo pháp luật ở các nước ASEAN. Ở Việt Nam Có thể thấy, giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay việc giáo dục pháp luật càng có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực do đó, giáo dục pháp luật là một trong những nội dung mà các nhà khoa học pháp lý quan tâm và là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta hiện nay.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai, Bàn về giáo dục pháp luật [6]. Chủ đề xuyên suốt cuốn sách là những nội dung lý luận về GDPL. Tác giả Đào Trí Úc với nghiên cứu, Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật [23]. Đề tài là một tập hợp các chuyên đề bàn sâu về ý thức pháp luật, lối sống theo pháp luật và các giải pháp xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật.
Một trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn số những giải pháp đó là phải tăng cường công tác GDPL cho các tầng lớp xã hội, bao gồm cả đội ngũ CBCC nhà nước và các tầng lớp nhân dân. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới [25]. Theo các tác giả, công cuộc đổi mới toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang đặt ra những yêu cầu phải tăng cường công tác tổng kết lý luận và thực tiễn trên các lĩnh vực phục vụ công cuộc đổi mới. Công tác GDPL ở nước ta cũng không nằm ngoài yêu cầu trên.
Tác giả Nguyễn Đình Lộc với công trình; Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam [13]. Trong công trình này, tác giả đã tập trung vào lý giải những vấn đề lý luận về ý thức pháp luật, như khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của ý thức pháp luật; đồng thời, tác giả tập trung khảo sát tình hình giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam, chỉ ra những điểm tích cực cũng như hạn chế trong công tác giáo dục ý thức pháp luật; từ đó, đề xuất những giải pháp cho công tác GDPL tại Việt Nam. Trần Ngọc Đường với nghiên cứu, Giáo dục pháp luật cho người lao động trong điều kiện đổi mới của Việt Nam [6]. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết quản lý xã hội bằng pháp luật, công tác GDPL cho cán bộ và nhân dân cần phải được chú trọng theo tinh thần Đại hội VII của Đảng: “Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật.
Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân” [1]. Dương Thanh Mai, Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật [14]. Luận án tập trung bàn luận sâu về hình thức GDPL đặc thù là GDPL thông qua hoạt động tư pháp, dựa trên thực tiễn hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Tác giả Trần Thị Sáu với nghiên cứu; Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam [18].
Nội dung luận án tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, đặc trưng và các điều kiện bảo đảm hiệu quả GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông; đánh giá thực trạng hoạt động GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất quan điểm và phân tích các giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay. Phan Hồng Dương, Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật ở Việt Nam [5]. Tác giả luận án đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật ở Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Ngoài hướng tiếp cận Luật học thể hiện ở các công trình nghiên cứu kể trên, vấn đề GDPL còn được tiếp cận nghiên cứu đa dạng dưới góc độ Giáo dục học, Xã hội học gắn với những lĩnh vực, địa bàn cụ thể.
Chẳng hạn: Tác giả Nguyễn Khắc Hùng với nghiên cứu, Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh [9]. Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến các biện pháp tổ chức GDPL; đánh giá thực trạng công tác tổ chức GDPL trong trường học, thực trạng triển khai các biện pháp tổ chức GDPL cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh; qua đó, đề xuất ba nhóm giải pháp tác động với 09 biện pháp cụ thể để GDPL cho học sinh trong các trường trung học phổ thông. Trong nghiên cứu của mình, Tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền với công trình, Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay [10] đã hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, các lý thuyết xã hội học được sử dụng trong nghiên cứu đề tài; tìm hiểu tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay; đánh giá thực trạng hoạt động GDPL cho con cái thuộc nhóm tuổi trung học cơ sở, trung học phổ thông trong các gia đình tại tỉnh Quảng Ninh thông qua nghiên cứu nhận thức của các bậc cha mẹ.