Chương 1. Cơ sở lý luận của việc quản lí giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh khuyết tật. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2. Thực trạng quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An.
Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An giai đoạn 2013 - 2018. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trên thế giới Chương trình giáo dục kỹ năng sống được đề cập nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX.
Trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” của UNICEF, trong chương trình này thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện. Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống và đã đưa ra được một bảng danh mục gồm 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ, đó là: hợp tác, tự do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, tình yêu, hoà bình, tôn trọng, trách nhiệm, giản dị, khoan dung và đoàn kết. Thế kỷ XXI kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 5/2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp. Trong giáo dục hiện đại, kỹ năng sống của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục.
Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ đã được đông đảo các nước quan tâm. Đặc biệt với khủng hoảng về giá trị đã và đang diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia.
Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định. Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ. Ở trong nước 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam Vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với nền giáo dục nước nhà. Vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ và cần phải có sự quan tâm, phối hợp của các cấp, các ngành trong toàn xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục KNS cho HSSV có rất nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu vấn đề này và xuất bản nhiều tác phẩm có ý nghĩa lớn trong hoạt động GDKNS cho HS. Nhóm tác giả PGS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng cộng sự đã cho ra đời các đầu sách như: “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học”, “ Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT”. Đặng Thị Thanh Huyền cùng cộng sự đã xuất bản cuốn sách “Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở vùng khó khăn”.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình và các cộng sự đã viết một loạt các bài báo các, các đề tài ngiên cứu cấp bộ và giáo trình “ Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống”. Bên cạnh đó, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề GDKNS cho HSSV như: PGS. Đặng Quốc Bảo, PGS TS.Nguyễn Thị Hường, GS. Nguyễn Quang Uẩn, PGS.
Nguyễn Dục Quang TS. Đinh Thị Kim Thoa, TS. Trần Văn tính, TS.Vũ Phương Liên Bác sỹ Lê Công Phượng, TS.Lưu Thu Thuỷ; TS.Nguyễn Kim Dung, TS. Nội dung GD KNS cũng được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.
Giáo dục trẻ khuyết tật là một hoạt động giáo dục mang tính chất đặc thù, đây là một lĩnh vực khá mới mẻ ở nước ta, tuy nhiên cùng sự phát triển của khoa học giáo dục nói chung thì khoa học giáo dục trẻ khuyết tật càng ngày được quan tâm chú trọng. Giáo dục trẻ khuyết tật trung thực hiện tốt Quyết định 23/2006/QĐ ngày 22/5/2006 của Bộ GD&ĐT và công văn 9890/BGD&ĐT ngày 17/9/2007. Phối hợp chặt chẽ với gia đình, cùng giúp các em được hưởng quyền học tập bình đẳng như những người khác. Nâng cao chất lượng dạy – học theo điều chỉnh chương trình, phù hợp với từng đối tượng khuyết tật, đảm bảo chuẩn kiến thức và kĩ năng cơ bản, và thực hiện tốt hòa nhập cộng đồng.
Giáo dục KNS là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ khuyết tật. Một số chương trình nghiên cứu giáo dục KNS cho học sinh khuyết tật được thực hiện thông qua các đề án, dự án, chương trình. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đang tiến hành biên soạn và thử nghiệm chương trình 7 năm bậc học Tiểu học cho trẻ khuyết tật trí tuệ. Trong đó chú trọng và tập trung chủ yếu vào giáo dục kỹ năng sống (Bao gồm 3 phân môn: Kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội) nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết gắn với đời sống hàng ngày của trẻ khuyết tật trí tuệ.
Nó là một phương tiện hữu ích, là “hành trang” bổ ích để các em bước vào đời và tự tin hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Đây là điều thiết yếu nhất cho nên dạy kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật trí tuệ là phù hợp, là cần thiết, là chính đáng và cần phải thực hiện ngay lập tức để đáp ứng đúng nhu cầu và khả năng của trẻ. Bên cạnh đó, còn có các chương trình như: xây dựng chương phát triển giao tiếp, giáo dục giới tính cho trẻ khiếm thính và nhiều nghiên cứu khác. Mặc dù cũng có những công trình nghiên cứu GDKNS cho học sinh khuyết tật nhưng những nghiên cứu này chưa nhiều.
Các công trình nghiên 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu mới chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng học sinh bình thường. Để đạt kết quả cao trong công tác giáo dục học sinh khuyết tật cần quan tâm nghiên cứu, ứng dụng giáo dục KNS cho học sinh bởi đây chính là tiền đề quan trọng để giúp các em hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất. Với chức năng, nhiệm vụ chăm sóc, phục hồi chức năng, giáo dục và hướng nghiệp nghề cho học sinh khuyết tật ở các tỉnh thành phía Bắc Việt Nam, Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An, đã và đang áp dụng những chương trình giáo dục KNS cho HS khuyết tật. Tuy nhiên do đối tượng HS khuyết tật tại Trung tâm đa dạng tật và tuổi của các em không đồng đều (từ 6- 18 tuổi), các em ở nội trú sống xa gia đình cho nên quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khuyết tật ở Trung tâm gặp phải những khó khăn bất cập.
Kế thừa và phát huy những kết quả của nghiên cứu giáo dục KNS cho học sinh bình thường và học sinh khuyết tật, đề tài: “ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An” đề cập đến thực tiễn quản lý giáo dục KNS cho học sinh khuyết tật trên cơ sở nghiên cứu đó đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục KNS cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Có rất nhiều định nghĩa về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khái niệm quản lý được xem xét như sau: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất [9].
Quản lý giáo dục Quan niệm về quản lý giáo dục có thể có các cách diễn đạt khác nhau, song các định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý giáo dục, khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu QLGD, cách thức và công cụ quản lí giáo dục. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiểu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất".