phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận văn kết cấu thành 03 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục giới tính cho học sinh nội trú ở trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh nội trú các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Văn Chấn - tỉnh Yên bái. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Văn Chấn - Yên Bái. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH NỘI TRÚ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về giáo dục giới tính cho học sinh Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp một cách hữu cơ hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác. Makarenko, “khi giáo dục cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính” [dẫn theo 1]. Ở Việt Nam, từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố.
Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… [24], [25], [28] đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Những công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình và một số cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh. Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam. Đến năm 1988, các dự án thử nghiệm VIE/88/P10 (giáo dục dân số ở các trường phổ thông và sư phạm), VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và GDGT), rồi đến VIE/94/P01 nâng cao và hoàn chỉnh chương trình nói trên.
Các 6 chương trình thử nghiệm về giáo dục đời sống gia đình và GDGT đã được đại đa số học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh chấp nhận. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 [13]. Từ khoảng năm 1990, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh. Để hoạt động giáo dục giới tính đạt được kết quả, Tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “Việc giáo dục giới tính cần phải được thực hiện một cách khoa học hợp lý, có phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp.
Hoạt động giáo dục này cũng phải được tiến hành bởi những người có chuyên môn, có trình độ, được đào tạo một cách chu đáo và hệ thống, giống như việc giáo dục, giảng dạy những bộ môn khoa học khác trong nhà trường” [25]. Theo tác giả Vũ Thị Thường trong cuốn: “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên” trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, đã giúp các em lứa tuổi vị thành niên có thêm kiến thức, kỹ năng để chăm sóc bản thân, bảo vệ sức khoẻ sinh sản tốt nhất, có ý thức tôn trọng, có trách nhiệm tong quan hệ với bạn khác giới [30]. Luận án tiến sĩ của Bùi Ngọc Oánh (1991) có đề tài “Những yếu tố tâm lí trong sự chấp nhận GDGT của thanh niên học sinh” [24], một lần nữa khẳng 7 định sự cần thiết của GDGT trong nhà trường trung học, tập trung nêu lên một số vấn đề tâm lí xã hội cần chú ý khi tiến hành GDGT cho học sinh như: phong tục tập quán Việt Nam nhiều người chưa biết về vấn đề này, không có thời gian để dạy, giáo viên chưa được huấn luyện… đặc biệt tác giả cũng chỉ ra một số khó khăn trong công tác GDGT cho học sinh là do sự e ngại khi nói tới những vấn đề có tính nhạy cảm trong môn GDGT. Qua đó tác giả cũng vạch ra một số biện pháp nghiên cứu sự chấp nhận GDGT của học sinh trong nhà trường.
Trong cuốn “Giáo dục giới tính dành cho tuổi vị thành niên” tác giả Đào Xuân Dũng đã cung cấp cho các nhà quản lý, thiết kế chương trình giáo dục một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn trong sự nghiệp giáo dục thanh thiếu niên. Đồng thời, giúp các bậc cha mẹ hiểu rõ hơn về GDGT, một vấn đề trước hết thuộc về trách nhiệm của gia đình và gia đình có thế mạnh trong xây dựng mô hình về mối quan hệ giới bình đẳng, tôn trọng và có trách nhiệm. Cuốn sách cũng giúp các giáo viên nâng cao kỹ năng giảng dạy về giới tính để các em học sinh tìm thấy ở thầy cô giáo một người tư vấn, người bạn chân thành và đáng tin cậy mỗi khi các em gặp khó khăn trong ứng xử xã hội, trong tình bạn và tình yêu. Đặc biệt, giúp các em ở tuổi vị thành niên tránh được những sai lầm của lứa tuổi, tiếp thu được những yêu cầu GDGT phù hợp độ tuổi của mình [15].
Các nghiên cứu quản lý giáo dục giới tính cho học sinh THCS Những nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hà Lan. giáo dục giới tính luôn là vấn đề được đặc biệt coi trọng và đưa vào giảng dạy rất sớm. Ngay từ cấp I, các em học sinh đã quen thuộc với môn giáo dục giới tính như một môn học chính thức, quan trọng chẳng kém gì học Văn hay học Toán. Những bài học đầu tiên các em được giới thiệu về cấu tạo, chức năng của cơ quan sinh sản của nam và nữ, tiếp theo là những biến đổi của cơ thể khi lớn lên, khi bước vào tuổi dậy thì.
8 Ở nước Anh, trẻ bắt đầu được giáo dục giới tính ngay khi các em còn học mầm non. Pháp luật nước Anh quy định rất rõ rằng khi trẻ đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc. Chương trình với tên gọi “Khóa học nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp THCS [Dẫn theo 38]. Khảo sát các chương trình giáo dục giới tính ở Châu Á cũng đang có những mức độ phát triển rất khác nhau.
Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học. Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản thanh niên. Ấn Độ có các chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ chín tới mười sáu tuổi.
Tại Trung Quốc và SriLanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc các đoạn về sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học [Dẫn theo 38]. Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục giới tính như: Tác giả Vũ Thị Thường trong cuốn sách: “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên” trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, tác giả đã đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, giúp các em có thêm kiến thức, kỹ năng để chăm sóc bản thân, bảo vệ sức khoẻ sinh sản tốt nhất, có ý thức tôn trọng, có trách nhiệm trong quan hệ với bạn khác giới [30]. Cuốn sách: “Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở” của tác giả Lục Trác Bình, Ngô Vĩnh Cường cung cấp những kiến thức cơ bản về tâm sinh lí của trẻ vị thành niên; những biến đổi khác biệt của trẻ trong độ tuổi mới lớn, đưa ra những tình huống ứng xử tiêu biểu giúp trẻ biết tự bảo vệ mình cũng như nắm được quan niệm đúng đắn về giới tính, từ đó phát triển đạo đức tốt. Cuốn sách Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở thực 9 sự là giáo cụ hữu ích cho quý thầy cô và quý phụ huynh trong việc giáo dục giới tính con trẻ [2].
Các nghiên cứu trên nhìn chung đã bàn tới thực trạng cũng như một số các biện pháp quản lý giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở ở trong nhà trường trên các địa phương khác nhau với những đặc thù riêng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý giáo dục giới tính cho học sinh nội trú các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái chưa có tác giả hay đề tài nào nghiên cứu.