Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lí hoạt động giáo dục GTS&KNS cho học sinh THCS. Chương 2: Cơ sở thực tiễn quản lí hoạt động giáo dục GTS & KNS cho học sinh THCS (vùng đồng bằng Sông Hồng) Chương 3: Các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục GTS& KNS cho HS THCS vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các công trình nghiên cứu về GT, GTS và giáo dục GTS Từ xa xưa đến nay vấn đề giáo dục GTS&KNS được quan tâm đặc biệt, giáo dục giá trị được xem là một nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
+ Các tác giả từ thời cổ đại như Khổng Tử [75] tới các tác giả cận đại như John Steuart Mill (1806-1873) [68], V.Dramaliv [91], Hồ Chí Minh, M. Các tác giả đương đại như, Phạm Minh Hạc,[46] Nguyễn Thị Mỹ Lộc [90],[ 7, 9, 11, 33, 43, 45, 53, 54] đã có nhiều cách luận giải khái niệm này. Khổng Tử là nhà triết học, nhà chính trị nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại cho rằng ai làm được “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ” người đó có đức nhân”. Con người cần hướng tới cả năm đức: “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, còn gọi là Ngũ thường, tức là Năm đạo đức cơ bản của con người.
Khổng Tử rất đề cao đức, “nhân”, ông đã đưa nhân lên thành đức mục cao nhất, coi đó là đích của tự tu dưỡng.Tugarinov (Liên xô cũ) cho rằng: “Giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (lợi ích, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng. John Steuart Mill (1806- 1873), một nhà triết học thực chứng, nhà 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com logic học, nhà kinh tế học, nhà chính luận và nhà hoạt động xã hội Anh, trong tác phẩm Bàn về tự do (được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào năm 1859), một trong những giá trị sống cơ bản của con người cho rằng “ tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác, rằng tự do xã hội là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập của cá nhân”. Đối với ông, mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc của riêng mình “trong chừng mực ta không mưu toan xâm phạm đến hạnh phúc của người khác, hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc”. Theo ông, mỗi người là người bảo vệ chính đáng nhất cho sự lành mạnh của người đó, dù là sự lành mạnh thân thể, tinh thần hay tâm linh.
Steuart Mill bảo vệ quyền của các cá nhân để họ được sống hạnh phúc theo ý họ, hơn là bắt họ sống theo ý những người xung quanh.[68] Nhà lý luận và cũng là nhà thực hành giáo dục Nhật Bản nửa đầu thế kỷ 20 Tsnunesaburo Makiguchi (1871 – 1945) xuất phát từ việc kết hợp các quan niệm truyền thống của triết học Phương Đông đã đề xuất tư tưởng về “giáo dục sáng tạo giá trị” làm cơ sở cho việc xây dựng mới hoặc ít nhất cũng là cải cách hệ thống giáo dục đang tồn tại.[45] Kohlberg là nhà triết học đạo đức, nhà tâm lý học, và là nhà giáo dục học người Mỹ. Là nhà tâm lý học, nhà giáo dục học ông nghiên cứu quá trình phát triển tâm lý của trẻ em và người lớn, tìm cách vận dụng chúng vào thực tiễn. Là nhà đạo đức học, ông nghiên cứu quá trình nhận thức đánh giá đạo đức của con người. Quá trình này được trình bày trong tác phẩm “Triết học về sự phát triển đạo đức”[76] L.Dramaliv (Bungari) coi giá trị là “ Một thành tố khách quan của xã hội.
Nó là một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm) thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người. Các tác giả nói trên đều thừa nhận giá trị là một phẩm chất khách quan, một 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc tính, một khả năng thỏa mãn được những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình qua hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị không thể tách rời khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm và những hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã hội” [91, 40]. + Trong xã hội cận đại và đương đại vấn đề giáo dục và quản lí giáo dục GTS vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm rộng rãi.Kuznesov, Armin Mahmoudi & Golsa Moshayedi, tổ chức UNICEF, UNESCO, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Trong công trình “Định hướng giá trị của giới trẻ ngày nay” (1995) A.Kuznesov đã phân tích phương hướng phát triển định hướng giá trị của lớp trẻ Nga hiện nay. Tác giả đã xác định mức độ tham gia vào xã hội của thanh niên qua sự công nhận các giá trị cơ bản của xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển trong thời kì hậu xã hội chủ nghĩa. Tuy tác giả không nói nhiều về các biện pháp quản lí, song đã mở ra một hướng mới cho các nhà quản lí hoạt động giáo dục GTS cho thanh niên là sự tham gia của giới trẻ vào các hoạt động xã hội và sự tác động của hoạt động này tới sự hình thành và củng cố các GTS sống cơ bản Với sự hợp tác nghiên cứu của các nhà giáo dục trên thế giới UNESCO đã đưa ra chương trình giáo dục giá trị sống với 12 giá trị cốt lõi đó là: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung, Đoàn kết, được tiến hành tại một số nước trên thế giới. Ỏ các nước Đông Nam Á trẻ em cũng được triển khai học tập KNS và là đối tượng nghiên cứu thành công có tính khoa học, hệ thống và tiêu biểu cho giáo dục nhân cách con người.
Người Việt Nam có truyền thống giáo dục đạo đức phong phú, tiếp thu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các giá trị Nho giáo đồng thời có những giá trị và cách thức giáo dục giá trị mang bản sắc riêng. Cũng là nói về chữ “nhân” nhưng cách nói của người Việt thật dễ hiểu dễ nhớ: “Thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng…”. Hay khi nói về chữ “nghĩa”: “con người sống với nhau có tình có nghĩa, có thủy có chung”, giải quyết vấn đề “có tình có lý”. Chữ lễ được đề cao ở mỗi trường học và trong việc giáo dục con em: “Tiên học lễ, hậu học văn”, hoặc qua ứng xử trong gia đình: “Kính trên, nhường dưới”, “Anh em như thể tay chân”.
Chữ “Trí” thể hiện việc khuyến khích học tập, mở mang tri thức, suy xét: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”… Trong quan hệ xã hội con người luôn được nhắc nhở luôn trung tín, giữ chữ tín, tránh bội tín tuy nhiên cũng không nên cuồng tín: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, “ Nói lời thì giữ lấy lời…” Ngoài ra, do những đặc trưng của nền văn minh lúa nước, truyền thống bất khuất chống giặc ngoài xâm nhiều giá trị sống tốt đẹp được người Việt Nam nuôi dưỡng và truyền từ đời ngày sang đời khác: đoàn kết, yêu nước, tự chủ, bất khuất, kiên cường, sáng tạo [48]. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã truyền vào tâm thức của người Việt hai chữ Trung, Hiếu: “Trung với nước – Hiếu với dân”. Ba giá trị chung của nhân dân, dân tộc được Bác đề cao và phản ánh trên các văn bản ở nước ta: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” như lời Bác ngày 30/05/1946 trước khi lên đường sang Paris “Nước ta được hoàn toàn độc lập, Dân ta được hoàn toàn tự do, Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [94]. Đất nước trải qua bao năm chiến tranh, Bác luôn hướng dân tộc tới giá trị Hòa bình và quyết tâm cùng cả nước giành lấy hòa bình.
Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Bác viết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhẫn nhịn nhưng chúng ta càng nhẫn nhịn, thực dân Pháp càng lấn tới và chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…” Với cán bộ nhân viên nhà nước, Bác nhấn mạnh các giá trị “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tƣ”. Cần: cần cù chăm chỉ; kiệm: tiết kiệm; liêm: thanh liêm, không tham nhũng, ăn hối lộ, vơ vét của dân; chính: chính trực, bảo vệ lẽ phải; lên án cái sai, cái xấu; chí công: công bằng, công tâm; vô tư: không có lòng riêng, thiên vị hay chèn ép người khác. Các GTS Bác dành giáo dục cho thiếu nhi rất mộc mạc, dễ nhớ qua năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng “1.
Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; 2. Học tập tốt, lao động tốt; 3. Đoàn kết tốt, kỉ luật tốt; 4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt; 5.
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” [94]. Những giá trị giáo dục trong thư gửi thiếu niên nhi đồng của Bác còn nguyên giá trị đến ngày nay. Không những với thiếu nhi Việt Nam mà các công dân trên thế giới, các tổ chức, các tập đoàn lớn trên thế giới đều xây dựng những giá trị này. Một trong những giá trị mà Bác đã dày công vun đắp, đã làm nên sức mạnh của dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác là “ đại đoàn kết dân tộc“.
Người viết: “Đoàn kết làm ra sức mạnh; đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công” “Đoàn kết là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. Người đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” [94] “ Mục đích của Đảng Lao Động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.