CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong lịch sử của nhân loại từ xưa đến nay, đạo đức có vai trò quan trọng và là một bộ phận không thể thiếu trong nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức góp phần điều chỉnh hành vi của con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác vì nội hàm của nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức bao giờ cũng đề ra một tiêu chuẩn để hướng hành động, đồng thời nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức bao hàm giá trị của lời khuyên con người hướng đến cái thiện. Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A.Makarenco đã nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của GDĐĐ.
Nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể của ông đã trở thành một trong năm con đường giáo dục được sử dụng rộng rãi hiện nay. Theo quan điểm hiện đại, năm con đường giáo dục bao gồm: con đường hoạt động dạy học, con đường hoạt động lao động, con đường hoạt động xã hội, con đường hoạt động tập thể và con người hoạt động vui chơi. Với hệ thống lý thuyết này, có thể thấy rằng nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể do Makarenco đề xuất hoàn toàn phù hợp và có giá trị kế thừa trong giai đoạn phát triển mới của lĩnh vực giáo dục. Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà triết học và khoa học ngày nay, các quốc gia phát triển trên thế giới đều rất chú trọng đến GDĐĐ cho HS và đã đưa những chương trình giáo dục cụ thể vào trong trường trình giáo dục trong nhà trường.
Tại Nhật Bản, triết lý GDĐĐ đã được đưa vào chương trình khung quốc gia gồm 06 mục tiêu: 1. Tinh thần tôn trọng nhân phẩm; 2. Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân; 3. Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ; 4.
Ý thức đóng góp cho sự phát triển của một thế giới hòa bình; 5. Khả năng tự quyết định một cách độc lập ; 6. Ý thức đạo đức. Với sự quan tâm của chính phủ tới việc GDĐĐ được thể hiện một cách cụ thể như vậy, có thể thấy rằng, GDĐĐ cho con người nói chung và HS, sinh viên nói riêng đã được xem như mục tiêu hàng đầu của ngành giáo dục nước Nhật.
Đây cũng là xu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng chung của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng mà còn là nhà tư tưởng lớn về đạo đức. Vấn đề đạo đức luôn là một trong những vấn đề trọng tâm mà Người luôn chú trọng trong xây dựng đất nước và phát triển con người. Người đã từng nói: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [32, tr. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng của người cách mạng. Để có được đạo đức cách mạng mỗi người phải chăm lo tu dưỡng, kiên trì bền bỉ suốt đời “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống , nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [33, tr.
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về vấn đề này như: Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc và nhiều tác giả khác. Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho HS với giáo trình “Giáo dục học tập 1 và tập 2”- Nxb giáo dục (1999). Trong các nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thế Ngữ luôn chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho HS. Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005) do tác giả Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đã xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người “ [47, tr.
Cuốn “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho HS trường trung học phổ thông (Tài liệu dùng cho giáo viên THPT)” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã tập trung vào nghiên cứu, hướng dẫn các phương pháp, kỹ năng giáo dục kỹ năng sống cho HS THPT, qua đó góp phần quan trọng trong việc bổ sung các kiến thức hữu dụng cho các giáo viên, nhà quản lý giáo dục về GDĐĐ cho HS THPT, giúp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS THPT. Ngoài ra còn có một số luận án tiến sỹ, đề tài thạc sỹ nghiên cứu vấn đề đạo đức, nhân cách HS, sinh viên. Sự ra đời của các công trình nghiên cứu, luận văn, giáo trình… của rất nhiều nhà khoa học đã cho thấy sự quan tâm của những người làm công tác giáo dục đối với vấn đề GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ cho HS. Luận án tiến sĩ “Quản lý sự liên kết của các trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay” của tác giả Lê Gia Thanh.
Luận án tiến sĩ “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của tác giả Mai Thị Như Hoa. Luận văn thạc sĩ “Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội hiện nay” của tác giả Trần Phúc Thăng. Luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Cầu Giấy, Hà Nội” của tác giả Lê Thị Thanh Bình… Vấn đề về đạo đức, GDĐĐ cho HSSV đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Các công trình nghiên cứu đã phân tích vấn đề GDĐĐ dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự tác động khác nhau, rất phong phú, đa dạng và có chiều sâu.
Tuy nhiên, qua các tài liệu tìm được, tác giả chưa thấy có công trình nào trực tiếp nghiên cứu GDĐĐ cho HS THPT theo hướng xã hội hóa giáo dục tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Vì vậy tôi chọn đề tài này với hy vọng góp một phần nhỏ để tham gia vào công tác giáo dục HS THPT của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Những tư liệu trên là hết sức quý giá để tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu và đề xuất biện pháp giải quyết. Tôi đã kế thừa trực tiếp những nghiên cứu trên đây, dựa vào sự gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển khai nghiên cứu của mình.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Đạo đức, GDĐĐ, hoạt động GDĐĐ 1.1 Đạo đức Trong tiến trình phát triển của lịch sử, đã có rất nhiều các định nghĩa về đạo đức. Đạo đức được xem là khái niệm gắn với luân thường đạo lý của con người, là sự tổng hợp những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu. Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội và do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Có thể hiểu khái niệm đạo đức này dưới ba góc độ sau: Dưới góc độ Triết học Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.137] Dưới góc độ Đạo đức học, “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc và chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [52, tr.12] Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [47, tr.170-171] Đạo đức không xuất phát từ tiên nghiệm lại càng không phải lực lượng xuất phát từ bên ngoài xã hội, đạo đức là sản phẩm của xã hội.
Đạo đức được hình thành từ mối quan hệ giữa con người với con người và mang bản chất xã hội.