phần mở đầu đã trình bày, có những đặc điểm khác với đối tượng học sinh tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, cũng như thành phố Cẩm Phả. Vì vậy, việc chọn đề tài “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh” là cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ngoài công lập trong quá trình hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý.
Quản lý ra đời chính là để tạo ra hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm của từng cá nhân riêng lẻ, của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung với nhau. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, nhưng có thể hiểu một cách chung 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất rằng quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý qua việc sử dụng các công cụ quản lý, các phương pháp quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức. Công cụ quản lý Mục Chủ thể Khách thể tiêu quản lý quản lý quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về khái niệm quản lý Mục tiêu của quản lý có vai trò định hướng toàn bộ hoạt động quản lý, đồng thời là căn cứ để đánh giá kết quả quản lý. Để thực hiện mục tiêu thì quản lý phải được thực hiện qua các chức năng của nó.
Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu – xác định mục tiêu kế hoạch hoá (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động) – triển khai công việc – điều chỉnh – đánh giá – sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: “Kế hoạch hóa- Tổ chức- Chỉ đạo- Kiểm tra” [1,tr. Thông tin được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết với cả 4 chức năng của quản lý. Dựa vào thông tin mà 4 chức năng của quản lý gắn kết chặt chẽ, tạo nên chất lượng của toàn bộ hoạt động quản lý.
Khái niệm quản lý giáo dục Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào, hoạt động giáo dục cần được tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học.) nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các thể chế chính trị - xã hội ở các quốc gia. Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ.
Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục không chỉ đòi hỏi tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật bởi vì đặc trưng cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý con người. Sản phẩm đầu ra của quá trình quản lý giáo dục chính là nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục. Quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục.
Nhà trường chính là nơi tiến hành các quá trình giáo dục có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó. Quản lý nhà trường được hiểu là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục là nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội hay có thể hiểu quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng của hiệu trưởng đến con 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người và các nguồn lực hợp quy luật nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Ngày nay, quản lý quá trình giáo dục – đào tạo trong nhà trường được coi như một hệ thống, bao gồm các thành tố: - Thành tố tinh thần: Chương trình giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, biện pháp giáo dục. - Thành tố con người: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, các phương tiện, thiết bị phục vụ cho dạy và học, tài chính. Người dạy Quá trình Dạy-Học/Giáo dục Người học Mục tiêu Tổ chức/hành chính GD Chương trình/PPGD Cơ sở vật chất/ tài chính Sơ đồ 1.2: Sơ đồ mô hình quản lý nhà trường theo mục tiêu giáo dục 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc gắn với tiến trình phát triển của nhân loại và dân tộc. Đạo đức cũng chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội đồng thời cũng chịu sự tác động qua lại chế ước lẫn nhau của các hình thái ý thức khác như pháp luật, văn hoá, giáo dục, tập quán… Thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về đạo đức, nhưng lại có hai quan điểm lớn về đạo đức, đó là: Quan điểm đạo đức truyền thống: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng người, giữa con người với xã hội.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan điểm hiện đại: Đây là quan điểm của các nhà nghiên cứu chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước do Phạm Minh Hạc đứng đầu. Theo các tác giả thì đạo đức phải thể hiện ở 5 mối quan hệ: - Con người với chính bản thân - Con người với con người - Con người với công việc (học tập, lao động…) - Con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội - Con người với lý tưởng của dân tộc Tóm lại, về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống. Những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức đó được mọi người, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện. Giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội.
Nhờ đó con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình. Vì thế công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách đạo đức con người mới, phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Vậy giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức. Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi từ bên ngoài xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.
Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục hướng nghiệp… giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện. Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục lòng trung thành với Đảng, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, có lòng nhân ái, cần cù, liêm khiết và chính trực, đó là đạo đức XHCN. Giáo dục đạo đức gắn chặt với giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục truyền thống tốt đẹp của ông cha ta và giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN. Giáo dục đạo đức cho học sinh phải được tuân thủ theo các nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất, tính thực tiễn trong quá trình dạy và học, đảm bảo các chuẩn mực XHCN được xã hội thừa nhận.
Quản lý giáo dục đạo đức Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức. Cụ thể đó là nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ thái độ, tình cảm, hành vi, và thói quen, những nét tính cách của nhân cách, ứng xử đúng đắn trong xã hội. Quản lý công tác giáo dục đạo đức là phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức. Quản lý công tác giáo dục đạo đức là quản lý cả mục tiêu nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục đạo đức, phát huy năng lực tự giáo dục của học sinh.