Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CIPO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở Singapore (trong đó có giáo dục đạo đức) lại tập trung vào việc tự đánh giá với hai nội dung chính là các động lực và kết quả. Động lực giúp các trường nhận biết cách thức để đạt được kết quả và kết quả cho thấy nhà trường đang đạt được những gì.
Từ đó, các nhà trường cần xem xét, thiết kế, cách thức hoạt động và sản phẩm đầu ra của giáo dục từ phương diện quá trình và kết quả cuối cùng. Các động lực sẽ chỉ cho lãnh đạo nhà trường biết được cách thức lãnh đạo nhân viên và quản lí hệ thống đạt được kết quả mong muốn. Việc quản lí hoạt động giáo dục tập trung chủ yếu vào các mặt: - Lãnh đạo. - Lập kế hoạch chiến lược.
- Quản lí người dạy. - Các qui trình hướng vào người học. - Kết quả hoạt động quản lí. - Kết quả của công tác đội ngũ.
- Đối tác và kết quả về mặt xã hội: - Kết quả hoạt động chính. Còn quản lí giáo dục đạo đức của Nhật Bản hướng vào trọng tâm là nền tảng các giá trị gia đình và văn hoá truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với tất cả các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông. Triết lí giáo dục đạo đức của Nhật Bản được ghi trong chương trình khung quốc gia nhằm đào luyện con người gồm 06 mục tiêu: - Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quí cuộc sống. - Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân.
8 - Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ. - Ý thức đóng góp cho sự phát triển một thế giới hòa bình. - Khả năng tự quyết định một cách độc lập. - Ý thức đạo đức (Kỉ luật, tự kiềm chế, tinh thần tập thể.
Đặc trưng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào 03 trọng điểm: - Lòng tôn trọng cuộc sống. - Quan hệ cá nhân và cộng đồng. - Ý thức về trật tự dọc (Kỷ luật xã hội). Ý thức về trật tự dọc là tôn ti xã hội nghiêm ngặt và là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của quốc gia Nhật Bản.
Đó là điểm tựa cho công tác quản lí hoạt động này. Trung Quốc tập trung chủ yếu vào các mặt: - Giáo dục lí tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). - Lòng tự cường dân tộc. - Tính kỉ luật trong lao động, học tập và hoạt động xã hội.
Trung Quốc coi trọng “giáo dục tố chất” nghĩa là tạo ra các điều kiện tiền đề để học sinh phát triển cả về thể chất và tâm hồn. Khiến cho tất cả học sinh đều được phát triển hết tiềm năng của mình từ đó thúc đẩy quá trình chuyển hóa ý thức xã hội bên trong phẩm chất tâm lí của cá thể học sinh. Đa số những nghiên cứu của Hoa Kì, Canada, Australia tập trung vào phát triển những cách tiếp cận và khung giá trị của giáo dục đạo đức, làm cho hệ thống quản lí quốc gia tương đối mềm mại, tùy theo điều kiện các địa phương. Về mặt quản lí, họ đề cao việc giáo dục các giá trị sống, giáo dục tính cách, giáo dục kĩ năng sống, dạy các kĩ năng xã hội và các giá trị văn hóa xuyên quốc gia, có tính chất quốc tế, tức là các giá trị nhân văn.
Theo tiếp cận chung của những quốc gia này, giáo dục đạo đức được quản lí trong tổng thể các chiến lược giáo dục giá trị và giáo dục công dân. Những tổ chức quốc tế chủ yếu như Unesco, Unicef, Ngân hàng Thế giới (World Bank) v.v… cũng đề cao giáo dục đạo đức và quan tâm nghiên cứu so sánh quốc tế giữa các quốc gia và khu vực. Những nghiên cứu của họ nhấn mạnh 9 kĩ năng sống, giá trị sống, trách nhiệm công dân, phát triển bền vững trên cơ sở giáo dục cho mọi người, phổ cập giáo dục, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, bạo lực trẻ em, lạm dụng lao động và tình dục trẻ em, nạn trẻ em lang thang cơ nhỡ và thiệt thòi về mặt xã hội, chính sách quốc gia bảo đảm công bằng cơ hội tiếp cận giáo dục. Các nghiên cứu ở trong nước Trong khoảng 20 năm gần đây, các vấn đề quản lí trường học và quản lí những nhiệm vụ cụ thể của trường học đã được quan tâm xem xét trong nhiều đề tài, luận án, luận văn các đề án phát triển giáo dục.
Những lĩnh vực quản lí được quan tâm nhiều nhất là quản lí dạy học, quản lí đào tạo, quản lí cơ sở vật chất nhà trường, quản lí đội ngũ giáo viên và những khía cạnh cụ thể khác của quản lí trường học như bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ giáo viên, quản lí học sinh - sinh viên, xây dựng nề nếp học tập, quản lí các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp v.v… Phần nào các vấn đề quản lí Hoạt động GDĐĐ trong nhà trường cũng được đề cập, tuy chưa đều giữa các cấp dạy và chưa thường xuyên giữa các địa phương, ví dụ: - “Một số biện pháp đổi mới QLHĐGDĐĐ cho học sinh THCS quận 10 thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ của Trần Thế Hùng, ĐHSP Hà Nội, 2006. - “Một số biện pháp tăng cường QLGD đạo đức cho học sinh các trường THPT ngoài công lập của tỉnh Hải Dương”. Luận văn thạc sĩ của Đỗ Văn Thược, ĐHSP Hà Nội, 2006.
- “Xây dựng mô hình quản lí công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay”. Luận án tiến sĩ Quản lí giáo dục của Nguyễn Thị Hoàng Anh, Đại học quốc gia Hà Nội, 2011. - “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”. Luận án tiến sĩ Quản lí giáo dục của Nguyễn Thị Thi, Đại học quốc gia Hà Nội, 2017.
Bên cạnh những ưu điểm trong công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức thì luận án vẫn còn tồn tại một 10 số ưu điểm sau: “Nguyên nhân thứ nhất: là những nguyên nhân mang tính chủ quan như: Sự biến đổi tâm sinh lý lứa tuổi, đó là sự thiếu ý thức, thiếu tự chủ hay bị cám dỗ lôi kéo từ các phần tử không tiến bộ. Điều này chứng tỏ đa số học sinh trường THCS đang ở lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi mới lớn, thích tìm tòi cái mới lạ nên hay bị sa ngã trước ma lực của những tệ nạn xã hội. Hơn nữa có những học sinh sống trong gia đình chưa được hưởng nền giáo dục tốt tạo cho họ có những thói quen không tốt, không tự giác rèn luyện bản thân; Nguyên nhân thứ hai: là những nguyên nhân mang tính khách quan như: Tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và ảnh hưởng của xã hội; sự bùng nổ của thông tin văn hóa; đời sống hiện nay còn nhiều khó khăn,…đã ảnh hưởng đến học sinh rất nhiều. Thực tế, do sự phát triển của xã hội, do quá trình mở cửa và hội nhập, nên có nhiều luồng văn hóa xâm nhập vào nước ta, với tâm lý học sinh là thích cái mới, hay học hỏi đua đòi, vì vậy một bộ phận học sinh chạy theo cái mới một cách mù quáng mà không có nhận thức và sự hướng dẫn nhận thức đúng đắn.
Với sự phát triển công nghệ thông tin như hiện nay thì những luồng văn hóa tiêu cực, không lành mạnh sẽ ảnh hưởng đến học sinh một cách dễ dàng. Vì vậy vấn đề đặt ra ở chỗ phải giáo dục ý thức tự giác, biết nhận thức một vấn đề một cách đúng đắn. Vì khi nhận thức đúng thì hành động mới chuẩn xác; Nguyên nhân thứ ba: Là những nguyên nhân thuộc về quản lý xã hội và quản lý giáo dục. Trong các trường THPT hiện nay nói chung và các trường THCS nói riêng, chất lượng GDĐĐ và quản lý GDĐĐ chưa cao, các bộ phận chức năng trong nhà trường hoạt động chưa đồng đều.
Bên cạnh đó các lực lượng xã hội cũng chưa dành sự quan tâm đúng mức cho hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Bởi nếu trong môi trường xã hội và trong trường trung học cơ sở có các giải pháp hữu hiệu thì sẽ có tác động tích cực tới tâm lý của học sinh, giúp cho họ nhận thức đúng đắn cái đúng, ngăn chặn được những tác động tiêu cực của xã hội đồng thời phát huy được những mặt tốt, tích cực trong học sinh”. (Nguyễn Thị Thi, 2017) 11 - “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương”.
Luận văn thạc sĩ Quản lí giáo dục của Lê Thị Kim Thúy, Đại học Thủ Dầu Một, 2018. - “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”. Luận văn thạc sĩ Quản lí giáo dục của Phạm Thị Dạ Thảo, Đại học Thủ Dầu Một, 2018. Bên cạnh những ưu điểm, luận văn còn một số điểm tồn tại như sau: “Kế hoạch giáo dục đạo đức: Các trường chưa thực hiện hiệu quả và thường xuyên việc đưa ra dự báo diễn biến về đạo đức học sinh tại trường; Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức: Các trường chưa thực hiện hiệu quả và thường xuyên về phổ biến cho giáo viên nắm rõ mục tiêu giáo dục đạo đức, cũng như việc xác định nhu cầu đội ngũ giáo viên tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh về số lượng lẫn chất lượng để phân công giảng dạy phù hợp; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức: Việc chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung trong từng bài giảng, các chuyên đề gắn với nhu cầu, thực tiễn địa phương và phù hợp với đối tượng học sinh chưa được thực hiện thường xuyên và chưa mang lại hiệu quả cao; Kiểm tra – đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức: Việc thực hiện trong công tác kiểm tra chưa mang lại hiểu quả”.
(Phạm Thị Dạ Thảo, 2018) Các công trình này đã đề cập đến một số vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức, quản lí giáo dục, quản lí trường học, quản lí giáo dục đạo đức và đề xuất một số giải pháp phù hợp để quản lí giáo dục đạo đức ở một số địa bàn cụ thể.