CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu ngoài nước Từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey, với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education) [20] đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn.
Kolb (1984) cũng đưa ra một lí thuyết về học từ trải nghiệm (Experiential learning) [32], theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm. Một số quan niệm khác của các học giả quốc tế cho rằng giáo dục trải nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995); học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin, 1995). Hoạt động trải nghiệm được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống…. Giáo dục ở nước Đức: Từ cấp Tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kĩ năng cá biệt, trong đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình.
Giáo dục ở nước Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Giáo dục ở nước Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động giáo dục trải nghiệm hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, cấp Trung học phổ thông phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo.Makarenko (1888 – 1939), nhà giáo dục nổi tiếng người Nga đã nói về tầm 6 quan trọng của công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể hạn chế để cho quá trình giáo dục chỉ được thực hiện trên lớp học mà đáng ra là phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta… Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp. Theo tổ chức văn hoá, giáo dục, khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO), khi nói về giáo dục thế kỷ XXI đã nêu ra 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết; học để làm việc; học để chung sống; học để tự khẳng định mình.
Đây là 4 trụ cột mang tính nhân văn sâu sắc trong thế kỷ XXI, học để biết tức là tiếp thu các kỹ năng về tư duy, tư duy sáng tạo, ra quyết định, tư duy giải quyết vấn đề, tiếp thu kiến thức và yêu cầu thực hành, vận dụng kiến thức, từng bước hoàn thiện bản thân,…; học để làm việc là tiếp thu các kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm…; học để chung sống là học để làm chủ các kỹ năng như ứng phó căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, không sử dụng bạo lực, thương lượng hoà bình, tôn trọng và chấp nhận sự đa dạng, khoan dung, dân chủ, đoàn kết và công lý; học để tự khẳng định mình là bao gồm các kỹ năng như giao tiếp, thương lượng, hợp tác, làm việc nhóm, tự khẳng định bản thân. Như vậy, qua các nghiên cứu trên có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định vai trò to lớn của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hướng trải nghiệm đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trung học phổ thông. Các nghiên cứu trong nước Có thể thấy từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp đào tạo nên những người tài đức là: Học đi đôi với hành, giáo dục đi đôi với lao động sản xuất, nhà trường gắng liền với xã hội! Tác giả Nguyễn Tấn Lượng trong bài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam theo hướng trải nghiệm sáng tạo” cho rằng chất lượng giáo dục học sinh ở nhà trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các HĐGD ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng. [22] Tác giả Hà Thế Ngữ trong cuốn “ Giáo dục học một số vấn đề lý luận và thực tiển” [25] cũng nhấn mạnh vai trò và hình thức hoạt động ngoại khóa, coi đây là một trong những hình thức hoạt động dạy học có khả năng tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em mở rộng nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt.
Đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói chung và hoạt động trải nghiệm trong nhà trường THPT nói riêng như: Hoạt động 7 trải nghiệm sáng tạo - kinh ngiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam của tác giả Đỗ Ngọc Thống [28], Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn khoa học tự nhiên phát triển nâng lực cho học sinh THCS của tác giả TS. Cao Thị Sông Hương (chủ biên) [18], Tổ chức họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông - Phùng Đình Mẫn (chủ biên) [24]. Trong các bài viết trên đều cho rằng nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm cần phải xác định và xây dựng khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt mục tiêu đặt ra. Nhìn chung các tác giả trên thế giới giới và trong nước đều đề cao vai trò tác dụng của HĐGD ngoài giờ lên lớp trong quá trình giáo dục học sinh, HĐGD ngoài giờ lên lớp là một trong những hình thức tổ chức dạy học quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh.
Như vậy, quản lý HĐGDNGLL ở các trường THPT đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, song hầu hết các tác giả chưa phân tích cụ thể các biện pháp quản lý HĐGDNGLL theo hướng TN ở các trường THPT, đặc biệt là đối với các trường THPT huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Vì vậy, khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tế công việc quản lý của mình.Mác, quản lý là loại lao động điều khiển mọi quá trình lao động và phát triển xã hội.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt mục đích đã định. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặc lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Harold Koontz (1909 – 1984), được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi cá thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [21]. 8 Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [16]. “Quản lý đặc trưng cho quá trình điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên nhân lực, tài chính, vật tư, trí thức và giá trị vô hình”. Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục Theo nghĩa tổng quan, quản lý giáo dục là những hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học.