Chương 1: Lý luận về dự án và quản lý dự án. Chương một của luận văn tập trung tìm hiệu một số cơ sở lý luận về dự án, quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng, những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài " Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án huyện Duy Xuyên. Trong chương hai, luận văn tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng, năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý dự án huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại, hạn chế, đang phải đối mặt của ban quản lý dự án huyện. " Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại BQL Dự án huyện Duy Xuyên.
Từ những kết quả đã nghiên cứu và đánh giá ở chương 2, luận văn sẽ lấy đó làm cơ sở dé tập trung hoạch định giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng công trình của Ban quản lý dự án huyện Duy Xuyên. CHUONG 1 LY LUAN VE DY AN VA QUAN LÝ DỰ ÁN Theo xu thế phát triển, trong những năm gần đây ngày càng có nhiều hoạt động đầu tư của các tô chức Nhà nước, doanh nghiệp dưới hình thức dự án vì vậy việc quản lý, vận hành dự án càng trở nên cấp thiết bởi tính quan trọng của dự án trong việc thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xây dựng công trình phục vụ sản xuất kinh doanh và an sinh xã hội. Chương một của luận văn sẽ tập trung tìm hiểu một số khái niệm về dự án, quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài của luận văn. DỰ ÁN ĐẦU TƯ Luận văn sẽ tìm hiểu các khái niệm về đầu tư, dự án, dự án đầu tư,.
qua đó đi sâu phân tích nội dung, đặc điểm của từng khái niệm. Khái niệm đầu tw Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. [10] Qua khái niệm này có thể thấy, đầu tư là bỏ chi phí ở hiện tại dé dat được một mục tiêu, kết quả, một khoản lợi nhuận trong tương lai; nó khác với tiêu dùng (như việc mua sắm cho tiêu dùng và sinh hoạt), đầu tư khác với tích lũy (tích lũy tiền mặt, kim loại quý,. Vì vậy, có thê hiểu, đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng ban đầu.
[9] Đối với các hoạt động đầu tư, người ta thường sử dụng những tiêu chí để phân loại; tiêu chí thường được sử dụng đó là quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo cách phân loại này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tu trực tiếp * Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Chang hạn như nhà đầu tư thực hiện hành vi mua các cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường. Trong trường hợp này nhà đầu tư có thé được hưởng cổ tức, tiền lãi trái phiếu., nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn đầu tư.
* Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện công việc. Đầu tư trực tiếp lai bao gồm đầu tư dịch chuyên va đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyên quyền sở hữu giá trị của tài sản, chẳng hạn như mua một số lượng cổ phiếu cần thiết để có thể tham gia hội đồng quản trị. Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống sinh hoạt của xã hội.
Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi địa phương hay của quốc gia. [10] Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác và nó cũng là cơ sở nghiên cứu cho đề tài này của luận văn. Chính vì vậy, khái niệm đầu tư trong phạm vi luận văn này sẽ được tiếp cận dưới góc độ của đầu tư phát triển. Các giai đoạn dau tw Vì một quá trình đầu tư là rất phức tạp, do vậy để đảm bảo cho một quá trình đầu tư được thực hiện một cách tốt nhất thì việc thực hiện phải có một tiến trình chặt chẽ, có hệ thống và phương pháp cụ thể để thực hiện.
Quá trình đầu tư thông thường được phân thành 3 giai đoạn lớn như sau: - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Giai đoạn nay cần giải quyết các công việc như nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư. Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước, ngoài nước dé xác định nguồn tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguôn cung ứng vật tư, thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư. Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng; lập dự án đầu tư. Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thấm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thâm định dự án đầu tư.
Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản Quyết định đầu tư nếu đây là đầu tư của Nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là của các thành phần kinh tế khác. - Giai đoạn thực hiện đầu tư: Giai đoạn này gồm các công việc như xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất); xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên); thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng. Mua sắm thiết bị, công nghệ; thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng; thấm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; tiến hành thi công xây lắp; kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng: vận hành thử, nghiệm thu quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm. - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công việc: nghiệm thu, bàn giao công trình; thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; bảo hành công trình; quyết toán vốn đầu tư; phê duyệt quyết toán.
Khái niệm dự án Dự án có thể được định nghĩa như sau: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.” Theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, và dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới. Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phâm hoặc dịch vụ duy nhất.” Định nghĩa này nhắn mạnh hai đặc tính, thứ nhất là nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn), nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định, dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ. Đặc tính thứ hai, sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất, đó là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc so với các dự án khác Từ những định nghĩa khác nhau có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của dự án như sau: - Dự án có mục đích, kết quả xác định. Kết quả này có thê là một tòa nhà, một cây cầu, một nhà máy, một dây chuyền sản xuất.
Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều công trình, hạng mục công trình cần thực hiện. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Có thể hiểu, dự án là một hệ thống phức tạp, gồm nhiều bộ phận và phân hệ đề thực hiện và quản lý nhưng phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chỉ phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian thực hiện xác định.
Dự án trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và 11 kết thúc. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án sẽ được chuyển giao cho bộ phận quản lý sử dụng. - Sản phẩm của dự án mang tính độc lập. Kết quả của dự án không phải là sản phâm sản xuất hàng loạt, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, có tính khác biệt cao.
- Dự án liên quan đến nhiều bên, có quan hệ giữa các bộ phận quản lý chức năng và quản lý dự án; có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau. - Tinh bất định và độ rủi ro cao.
Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.