CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Sở Y tế Hà Nội có chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bao gồm: y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y dược cổ truyền, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người; mỹ phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo hiểm y tế. Chính vì vậy, trong những năm qua, được sự quan tâm của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, ngành Y tế đã triển khai thực hiện các chương trình đề án, dự án, kế hoạch đầu tư phát triển y tế, từng bước nâng cấp phát triển ngành y tế vững mạnh, lĩnh vực hoạt động của ngành y tế ngày càng được mở rộng, đem lại lợi ích không nhỏ cho nhân dân trên địa bàn thủ đô nói riêng và các vùng lân cận nói chung. Nhiệm vụ chung của ngành y tế là phát triển hệ thống y tế hoàn chỉnh nhằm đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân thủ đô Hà Nội, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội và của cả nước.
Phấn đấu để mọi người dân Thủ đô được hưởng các dịch vụ y tế trình độ cao và chất lượng cao. Y tế thủ đô phải là y tế tiên tiến, phải là trung tâm công nghệ cao về y học của cả nước, phấn đấu hội nhập với các nước tiên tiến trong khu vực về chất lượng, trình độ kỹ thuật; một số lĩnh vực đạt trình độ các nước tiên tiến trên thế giới. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ trung bình, xây dựng được tập quán tốt về vệ sinh phòng bệnh. Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất, tinh thần và xã hội.
Bên cạnh việc chăm sóc, khám, chữa và phòng chống dịch bệnh cho nhân dân trên địa bàn Thủ đô, ngành y tế cũng không ngừng quan tâm phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị của ngành theo đó công tác đầu tư xây dựng cơ bản như sửa chữa và xây dựng mới các cơ sở khám chữa bệnh, mua sắm, lắp đặt trang 5 thiết bị ngày càng được chú trọng nhằm đảm bảo điều kiện vật chất, làm việc tốt nhất cho cán bộ ngành y tế để có thể phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Trong tiến trình đổi mới, phát triển KT-XH ở Việt nam, nhu cầu về ĐTXD đặc biệt cho ngành y tế là rất lớn. Như vậy, ĐTXD là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực ĐTXD đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò QLNN đối với lĩnh vực này là hết sức to lớn.
Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá trình thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này càng mang tính cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Các nghiên cứu trong nước Một số công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến vấn đề quản lý dự án đầu tư XDCB mà tác giả được biết đến như: - Trịnh Quốc Thắng, 2007. Quản lý dự án đầu tư xây dựng. TP Hà Nội: Nhà xuất bản Xây dựng.
Công trình nghiên cứu này đã đề cập một số vấn đề về quản lý dự án đầu tư XDCB: QLDA là sự kết hợp tuyệt vời giữa khoa học và nghệ thuật, do đó người quản lý dự án ngoài những kiến thức cơ bản về khoa học quản lý, công nghệ quản lý, còn phải nắm vững nghệ thuật quản lý. Đó là sự đổi mới tư duy cần thiết để có thể nắm được những luận thức mới, những tư tưởng mới của lý thuyết quản lý hiện đại. Công trình cũng cung cấp những vấn đề cơ bản của QLDA cũng như những công việc cụ thể phải làm khi quản lý dự án đầu tư xây dựng. chính nêu các nguyên tắc lập kế hoạch và các bước hoạch định quy trình được áp dụng cho quản lý từng loại dự án xây dựng.
+ Phạm Trường Giang, 2003. Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Luận văn thạc sỹ kinh tế: Đại học Kinh tế quốc dân. Trong nghiên cứu này, tác giả luận văn nhìn nhận quản lý dự án ĐTXD dưới góc độ quản lý vốn, công tác giải ngân cấp phát vốn, kiểm tra kiểm soát việc cấp 6 phát vốn, sử dụng vốn ĐTXD.
Luận văn đã hệ thống hoá và phân tích một cách có hệ thống thực trạng công tác quản lý vốn ĐTXDCB của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB của BHXH Việt Nam. + Nguyễn Khắc Thiện, 2006. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Tây.
Hà Nội: Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. + Nguyễn Mạnh Hà, 2012. Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng. Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác QLDA đầu tư của Bộ Tổng tham mưu, đã đưa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện về công tác QLDA tại Bộ Tổng tham mưu.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài là về công tác QLDA đầu tư tại một đơn vị sử dụng vốn NSNN trong quốc phòng. + Hoàng Thị Ngọc Diệp, 2013. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Luận văn thạc sĩ kinh tế: Đại học Kinh tế Mỏ - Địa chất.
Nội dung đề tài tập trung thống kê, mô tả quá trình tổ chức ĐTXD của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 đến 2010. Đề tài làm rõ một số vấn đề về quản lý ĐTXDCB của tỉnh Quảng Ninh; Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác QLDA đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Ninh. Các nghiên cứu ngoài nước + S. Keoki Sears Glenn A.
Quản lý dự án xây dựng - Cẩm nang hướng dẫn thực hành quản lý thi công tại công trường. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản. Cuốn sách được xem là cẩm nang hướng dẫn toàn diện về quá trình hoạch định lịch trình dự án theo phương pháp đường găng (CPM). Đây là sự kết hợp giữa các nguyên tắc nền tảng cơ bản của phương pháp CPM với trọng tâm hướng đến quy trình lập kế hoạch dự án được thể hiện thông qua một dự án mẫu.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢNG BẰNG VỐN NGÂN SÁCH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại Điều 3 - Giải thích từ ngữ, khái niệm đầu tư được hiểu: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đầu tư có nhiều loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (cho vay); đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Đầu tư dài hạn thường gắn với đầu tư xây dựng tài sản cố định gắn với đầu tư xây dựng cơ bản. Do vậy, vốn ĐTXDCB có thể hiểu như sau: Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản Mục 17 Điều 3 Luật Xây dựng định nghĩa: Dự án ĐTXDCB công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở.
Dự án ĐTXDCB nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư nhằm phục vụ sự phát triển của xã hội. ĐTXDCB thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐ và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho toàn xã hội. Mục 7 Điều 4 Luật Đấu thầu định nghĩa: Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. 8 Như vậy, dù xét theo bất kỳ góc độ nào, một dự án ĐTXDCB đều bao gồm các vấn đề chính sau đây: - Mục tiêu của dự án: Bao gồm mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài.
+ Mục tiêu trước mắt: Là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án. + Mục tiêu lâu dài: Là sự tăng trưởng phát triển về số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ hay các lợi ích xã hội do thực hiện dự án đầu tư mang lại. - Các kết quả của dự án: Đó là các tài sản cố định của dự án, được tạo ra từ các hoạt động xây dựng của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án.
- Các hoạt động của dự án: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này gắn với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. - Các nguồn lực của dự án: Đó chính là các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động dự án. Các nguồn lực này được biểu hiện dưới dạng giá trị chính là vốn ĐTXDCB của dự án.