phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương. Chƣơng 1: Quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện hội nhập: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 3: Bối cảnh mới và những giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc trong giai đoạn mới.
6 CHƢƠNG 1 QUẢN LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆNHỘI NHẬP: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Doanh nghiệp nhà nƣớc: Khái niệm, cách phân loại và vai trò của nó 1. Khái niệm Trong những năm trước đổi mới (1954-1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tương thích với mô hình đó, có khái niệm về các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh.
được hiểu là những tổ chức kinh tế do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn (100%), quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng người lao động theo chế độ biên chế ổn định. Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh tế quốc doanh - bộ phận chủ yếu được coi là giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kiểu kế hoạch hóa tập trung. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán bộ công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế độ phân phối và đãi ngộ. Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện.
Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy, tiêu biểu như Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995. Điều 1 của bộ luật này quy định: " Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao”. Như vậy, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995, xét về quan hệ sở hữu vốn thì luật mới chỉ chấp 7 nhận loại doanh nghiệp nhà nước mà chủ sở hữu duy nhất nắm giữ 100% vốn của doanh nghiệp là Nhà nước. Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 12 năm 2003, trong điều 1 quy định: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006, đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1995 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003. Tuy nhiên, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp, được Quốc hội thông qua, ngày 29 tháng 11 năm 2005. Như vây, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trên đây đã không chỉ chú trọng đến hình thức sở hữu của loại hình doanh nghiệp có tính chất công hữu này, mà còn nhấn mạnh đến cả chức năng đặc thù của chúng, đó là doanh nghiệp nhà nước không chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thông thường giống như tất cả các doanh nghiệp khác, mà còn là công cụ để Chính phủ sử dụng nhằm đạt được mục tiêu kinh tế-xã hội mà một doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận không thể thực hiện được. Riêng về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp (2006) cũng có những mặt nới lỏng và năng động hơn.
Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Mặt khác, chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước (mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn) cũng được chú trọng. Quan điểm trên đây hoàn toàn phù hợp với cách nhìn nhận của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của doanh nghiệp nhà nước, đã được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX: “Việc xem xét, đánh giá 8 hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, lấy kết qủa thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích”.
Theo mức độ sở hữu*: - Loại doanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước. - Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thông qua cổ phần hoặc góp vốn cho doanh nghiệp và giữ quyền chi phối doanh nghiệp đó. - Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó phần sở hữu của Nhà nước chiếm từ 50% cổ phần trở xuống. Theo chúng tôi , việc phân chia theo mức độ sở hữu trên đây về cơ bản là hợp lý.
Điều đó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, Nhà nước đảm bảo thực hiện được chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo tính định hướng nền kinh tế thông qua hình thức sở hữu nhà nước, do Nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phần. Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đảm bảo được chức năng cạnh tranh bình đẳng đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường, phù hợp với bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO. Theo mô hình tổ chức hoạt động: - Doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức tập đoàn kinh tế nhà nước. - Doanh nghiệp nhà nước là các tổng công ty nhà nước.
- Doanh nghiệp nhà nước độc lập và doanh nghiệp nhà nước thành viên hạch toán độc lập thuộc các tổng công ty nhà nước. - Công ty mẹ, công ty con. Theo phân cấp quản lý: - Doanh nghiệp nhà nước do các Bộ quản lý. - Doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý.
- Doanh nghiệp nhà nước do các tổ chức, đoàn thể xã hội quản lý. Theo các ngành kinh tế - kỹ thuật: - Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp 9 * (Phân loại theo mức độ sở hữu, ở đây được căn cứ vào Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003): - Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng và phục vụ sản xuất công nghiệp. - Doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc.Vai trò của doanh nghiệp nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Na m 1. Vai trò kinh tế Trong mô hình kế hoạch hoá tập trung, vai trò kinh tế của doanh nghiệp nhà nước được đề cao tuyệt đối, thậm chí có xu hướng tư tưởng và chính sách đã từng coi mức độ phổ biến của doanh nghiệp nhà nước là tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ về quan hệ sản xuất, là tiêu chí phản ánh mức độ chín muồi của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cách tư duy này đã bị đời sống thực tế bác bỏ ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về bản chất, ít nhất trong giai đoạn đầu, là một cơ chế hỗn hợp: vừa có sự tham gia của thị trường với sở hữu tư nhân và vai trò to lớn của khu vực tư nhân, vừa có sự tham gia của Nhà nước, trong đó Nhà nước tác động vào nền kinh tế theo hai hướng: thứ nhất, điều tiết thông qua các công cụ, chính sách quản lý vĩ mô chung; thứ hai, tác động trực tiếp thông qua các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức sản xuất kinh doanh. Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường vì: kinh tế thị trường thường khó tránh khỏi một số khuyết tật thậm chí là những thất bại, chẳng hạn như sự thiếu hụt hàng hoá công cộng, sự xuất hiện hình thức độc quyền tư nhân dẫn đến lũng đoạn nền kinh tế… Để giải quyết các khuyết tật của kinh tế thị trường, đòi hỏi Nhà nước, ngoài chức năng tạo lập môi trường và điều tiết, phải tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh ở một số ngành hàng. Theo hướng phân tích trên đây, có thể khái quát về vai trò kinh tế của doanh nghiệp nhà nước như sau: Thứ nhất, sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước giúp khắc phục trong những giới hạn có thể mặt trái của cơ chế thị trường và những hạn chế của kinh tế tư nhân.
1 Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đảm nhận thị trường các hàng hoá công cộng. Hàng hoá công cộng do tính chất đặc thù không thể loại trừ, nếu để khu vực tư nhân sản xuất và cung ứng theo nguyên tắc thị trường tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không hiệu quả; hoặc sẽ gây ra tình trạng thiếu hụt do không có ai tham gia sản xuất; hoặc dẫn đến tình trạng độc quyền tự nhiên kéo theo gánh nặng chi trả của người tiêu dùng. Như vậy, tuỳ theo tầm quan trọng, hàng hoá công cộng bao gồm các ngành hàng hết sức đa dạng từ điện nước sinh hoạt, điện nước sản xuất, xử lý các loại chất thải, vận tải hành khách công cộng, hoặc trồng rừng, y tế, giáo dục…Quan điểm hiện đại về kinh tế thị trường cho rằng doanh nghiệp nhà nước chỉ nên tham gia vào những ngành quan trọng, thiết yếu, còn những ngành khác của hàng hoá công cộng vẫn có thể để khu vực kinh tế tư nhân tham gia với sự điều tiết bằng chính sách của Nhà nước.