Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ VÀ DI TÍCH ĐỀN - CHÙA THÁI 1. Di sản văn hoá Di sản văn hoá “là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá” [17, tr. Vì vậy, di sản văn hoá giữ vai trò quan trọng và trở thành nguồn lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Di sản văn hoá Việt Nam là kết tinh trí tuệ, tình cảm từ ngàn đời của các thế hệ cha ông.
Trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhưng cho đến ngày nay chúng ta vẫn gìn giữ được một kho tàng di sản văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng. Nhờ kho tàng di sản văn hoá ấy, thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có được bệ đỡ vững chắc về truyền thống lịch sử, bề dày văn hoá của dân tộc Việt Nam hào hùng để tiến bước vững chắc vào tương lai. Di sản văn hoá Việt Nam phản ánh tinh thần, truyền thống, tình cảm, bản lĩnh, trách nhiệm cũng như cách ứng xử của con người Việt Nam trước những biến cố của tự nhiên và lịch sử. Với Việt Nam, Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001, là văn bản có giá trị cao nhất điều chỉnh riêng lĩnh vực di sản văn hóa.
Theo công ước của UNESCO về việc Bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên cũng như theo tinh thần của Tổ chức này tại Hội nghị về văn hóa được tổ chức tại Mêhicô năm 1982, Luật Di sản văn hóa của Việt Nam (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã đưa ra định nghĩa như sau: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ 9 nghĩa Việt Nam" [38, tr.10]; Đây là một khái niệm toàn diện, đầy đủ, phù hợp với quan niệm chung của thế giới. Di sản văn hoá là những gì còn lại qua thời gian, là bức thông điệp, là bản sắc tốt đẹp riêng biệt của nền văn hoá dân tộc. Nó bao hàm giá trị vật chất và giá trị tinh thần cao cả, nó được kết tinh qua tiến trình lịch sử lâu dài mà cha ông ta để lại. Giá trị vật chất (văn hóa vật thể) là những cái nhìn thấy được bằng trực quan và có một giá trị nhân văn, lịch sử rất lớn ẩn chứa bên trong.
Giá trị tinh thần (văn hóa phi vật thể) là những cái lưu giữ trong tình cảm, trí nhớ của con người và nó chỉ trở thành vững chắc khi được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Di sản văn hoá ngày càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hoá với các góc độ khác nhau, với nhiều cách phân loại khác nhau phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau. Để giữ gìn và phát huy có hiệu quả hơn nữa di sản vô giá của dân tộc, thi hành triệt để Luật di sản do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành thì mỗi chúng ta cần phải có một ý thức bảo vệ hơn nữa vốn Di sản văn hoá của dân tộc.
Đây là vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói riêng và đối với vận mệnh dân tộc nói chung. Đó là tấm gương toả sáng ngàn vạn đời sau cho muôn thế hệ; chúng ta cần khai thác được những giá trị văn hoá tinh thần ẩn sâu trong tầng văn hoá di sản địa phương, đó cũng chính là góp phần vào việc gìn giữ, trao truyền và phát huy những giá trị văn hoá độc đáo, mang bản sắc riêng của dân tộc. Di sản văn hoá được hiểu là những gì con người sáng tạo ra, khám phá ra và đã được bảo vệ, giữ gìn trao truyền lại cho thế hệ sau. Như vậy, di sản văn hoá được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại 10 cho thế hệ sau.
Di sản văn hoá bao gồm những sản vật chất và phi vật chất, sản phẩm hữu hình hay vô hình do con người sáng tạo ra. Các sản phẩm hữu hình như công trình kiến trúc, điêu khắc, tác phẩm mỹ thuật và thủ công tinh xảo. Các sản phẩm phi vật chất là các giá trị tinh thần, truyền thống và phong tục tập quán, thị hiếu của mỗi cộng đồng. Khái niệm di sản văn hoá còn bao hàm cả di sản thiên nhiên do con người khám phá ra và bảo vệ, tôn tạo chúng.
Di sản văn hoá là yếu tố cốt lõi của văn hoá, chuyển tải bản sắc văn hoá của một cộng đồng xã hội. Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản văn hoá quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn, làm phong phú cho kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Theo Công ước về việc Bảo vệ Di sản văn hoá và tự nhiên của thế giới được UNESCO thông qua tại kỳ họp thứ 17 năm 1972 tại Pari (Pháp), di sản văn hoá vật thể được hiểu là: Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa hoành tráng, các yếu tố hay cấu kết có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động với các nhóm hay yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học.
Các quần thể: Các nhóm công trình đứng một mình hay quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc công trình của con người kết hợp với công trình của tự nhiên cũng như các khu vực kể cả 11 các di chỉ khảo cổ học có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [54, tr. Luật Di sản văn hoá quy đinh về di sản văn hoá vật thể: "Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc giá" [38, tr. Như vậy, ngoài những đặc điểm của di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa vật thể còn phải mang đặc điểm riêng là thể hiện dưới dạng vật chất.
“Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học” [38, tr. Như vậy, công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó phải có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học mới được coi là di tích lịch sử - văn hoá. Có nghĩa chúng phải là vật chứng cho một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một phong cách, một thời đại; hoặc chúng là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định. “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học” [38, tr.
Định nghĩa này nhìn chung không có gì mâu thuẫn với định nghĩa được nêu ra trong Công ước của UNESCO, tức là danh lam thắng cảnh có thể là cảnh quan thiên nhiên hoặc công trình, địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với cảnh quan nhân tạo. Luật Môi trường (Điều 2) cũng đề cấp đến danh lam thắng cảnh với vai trò là di sản văn hoá vật thể và là một trong những yếu tố tạo thành môi trường. 12 Văn hoá vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hoá chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. Di sản văn hoá vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt.
Di sản văn hoá vật thể luôn chịu sự thách thức của tác động thiên nhiên, của con người thời đại sau. Di sản văn hoá vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [38, tr. Đặc trưng rõ nhất của văn hoá phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộng đồng xã hội, chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người.
Văn hoá phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần của con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động trong tư cách một hiện tượng văn hoá. Như vậy, có thể nói di sản văn hoá đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong môi trường sống của con người, mà di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh lại là phần biểu hiện vật chất, nơi lưu giữ các giá trị văn hoá tiêu biểu nhất trong kho tàng di sản văn hoá dân tộc.