Chương I của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[15] Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm. Phần cứng đó là trang thiết bị. Phần mềm bao gồm (thành phần con người thành phần thông tin, thành phần tổ chức) bất kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo bốn thành phần trên mỗi thành phần đảm nhiệm những chức năng nhất định. Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất. Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác. Ngày nay, khoa học và công nghệ không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển nền kinh tế, xã hội của mọi quốc gia mà còn là chỉ số để đánh giá mức độ phát triển của quốc gia đó. b) Nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ (nguồn nhân lực chất lượng cao) Theo định nghĩa của UNESCO, Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ” [23] Định nghĩa trên chỉ phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước.
Số nhân lực trực tiếp tham gia chính là chỉ số nhân lực KH & CN. Theo định nghĩa của OECD, Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế Châu Âu, nguồn nhân lực bao gồm: “Toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lao động có bằng chuyên môn về một lĩnh vực khoa học và công nghệ nào đó từ cao đẳng trở lên, hoặc không có bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên”. [22] Theo Đại từ điển kinh tế thị trường, nhân lực chất lượng cao là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động và sáng tạo của bản thân trong điều kiện thực tiễn của xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội, của nhân loại“[6, tr. Như vậy có thể thấy nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực đã qua đào tạo bài bản, có năng lực và kỹ thuật chuyên môn cao trong một lĩnh vực nhất định, tham gia lao động xã hội (trong doanh nghiệp hoặc tổ chức), góp phần cống hiến vào sự phát triển chung hoặc một ngành nhất định nào đó của xã hội.
Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng những cá nhân đang lao động trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ được xem là nguồn nhân lực chất lượng cao. Họ vừa có những đặc điểm chung của nguồn nhân lực lại vừa có những đặc điểm chuyên biệt về đào tạo, giáo dục, năng lực nghiên cứu và tư duy của những cá nhân lao động trực tiếp và chuyên biệt trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ (không đề cập tới các cá nhân đang lao động ở những khâu trung gian của tổ chức). Di động xã hội 1.Khái niệm Di động xã hội (tiếng Anh: Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội. Đào Thanh Trường, “di động xã hội được hiểu như là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội”[9, tr.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển trực tuyến Oxford Reference, “Di động xã hội thường là của cá nhân, đôi khi là của nhóm người, chuyển dịch các vị trí khác nhau trong hệ thống phân tầng xã hội của bất kỳ xã hội nào”[21] Trong cuốn Sociology: A brief introndution của Richard T. Schaefer định nghĩa như sau: “thuật ngữ di động xã hội đề cập đến sự chuyển dịch của các cá thể hay của các nhóm người từ một vị trí nhất định đến một vị trí khác trong hệ thống phân tầng của xã hội”[18, tr. Như vậy có thể hiểu, di động xã hội là sự chuyển dịch địa vị của một cá thể hoặc nhiều cá thể trong cơ cấu tổ chức hoặc trong một xã hội phân tầng. Các loại hình di động xã hội Các nhà xã hội học thường xuất phát từ mục đích, nội dung, hướng tiếp cận khác nhau và có sự phân loại các loại hình di động khác nhau nhưng chung quy lại được phân chia thành: Di động xã hội theo chiều dọc, di động xã hội theo chiều ngang, di động xã hội trong thế hệ và di động xã hội giữa các thế hệ.
Di động xã hội theo chiều dọc hay còn gọi là di động dọc: là sự dịch chuyển theo chiều dọc vị trí cá nhân/nhóm xã hội đến các vị trí khác không cùng tầng/giai cấp. Di động dọc có thể “lên trên” hoặc “xuống dưới”. Di động dọc nhấn mạnh sự thay đổi địa vị xã hội của cá nhân hay của nhóm xã hội. Ví dụ, một người khi mới vào tổ chức, chỉ giữ chức vụ nhân viên, sau một thời gian (ngắn/dài) có thể giữ chức vụ quản lý trong bộ máy.
Đây là di động “lên trên”. Hoặc một người, trong tổ chức hoặc khi mới về tổ chức, đã giữ một chức vụ quản lý, sau một thời gian, vì một lý do nào đó, họ từ bỏ chức vụ quản lý, trở lại vị trí nhân viên. Đây là di động “xuống dưới”. Di động dọc liên quan tới sự phân tầng xã hội của cá nhân.
Nó phản ánh sự thay đổi giai cấp (hoặc địa vị xã hội) một cách rõ rệt nhất đối với cá thể hoặc nhóm xã hội. Đối với trường hợp người nhân viên được thăng cấp vào chức vụ quản lý, anh ta từ vị 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thế của giai cấp cổ cồn trắng sang giai cấp thượng lưu có tài sản hoặc tiểu tư sản hoặc giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất. Di động xã hội theo chiều ngang hay còn gọi là di động ngang: là sự dịch chuyển của các cá nhân, các nhóm xã hội tới cùng một vị trí khác cùng tầng; là sự thay đổi vị trí xã hội của cá nhân mà không dẫn đến sự thay đổi địa vị xã hội lên hay xuống. Di động ngang cũng nằm trong hiện tượng đa vị thế - vai trò của cá thể.
Đó là hiện tượng một người (cá thể) có thể đảm nhận cùng lúc nhiều công việc khác nhau. Vị thế xã hội là “chỗ đứng” của một con người trong không gian xã hội nhất, được đem so sánh với “chỗ đứng” của những người khác. Nó liên quan chặt chẽ đến quan hệ của cá nhân với những người xung quanh anh ta. Trong nền kinh tế thị trường, lao động cũng là một loại hàng hóa đặc trưng thì một người có thể làm nhiều vai trò cùng một lúc là sự tất yếu.
Ví dụ như một người đang làm bác sĩ trong một bệnh viện có thể cùng lúc cũng là bác sĩ cho các bệnh viện tư bên ngoài. Cả hai vị trí trên đều không làm thay đổi địa vị của anh ta trong xã hội. Di động xã hội trong thế hệ: Là sự di chuyển về nghề nghiệp hay địa vị xã hội của một cá nhân ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mình. Di động trong thế hệ liên quan tới sự vận động của cá nhân trong suốt cuộc đời họ.
Một người làm giáo viên nhưng họ cũng có thể trở thành người quản lý trẻ sau giờ học hoặc một người làm tài xế taxi cũng có thể vừa dời khỏi một hãng kế toán vì hãng phá sản. Trong suốt cuộc đời của mình, một người có thể liên tục thay đổi công việc. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, việc một cá nhân thay đổi công việc liên tục là điều dễ thấy. Sự vận động của mỗi cá nhân đều nhằm thỏa mãn mục đích mà cá nhân đó muốn hướng tới.
Di động trong thế hệ diễn ra chỉ đối với cá nhân. Di động liên thế hệ: Xác định quá trình tiếp nhận vị trí xã hội giữa các thế hệ, là sự di chuyển địa vị xã hội của con cái đến tuổi trưởng thành đối với địa vị xã hội của cha mẹ. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong một làng nghề truyền thống, nghề nghiệp được truyền từ đời này qua đời khác. Những thế hệ sau, tiếp nối thế hệ trước tiếp tục nghề truyền thống.
Tuy nhiên, nếu xã hội có những biến động nhất định, việc một trong số những người thuộc thế hệ sau có thể không tiếp tục nghề truyền thống từ đời trước truyền lại. Họ có thể chuyển sang một ngành nghề khác hoặc ra khỏi khu vực làng nghề truyền thống để tiếp tục phát triển bản thân với nghề truyền thống hoặc nghề mới mà họ có được. Một trường hợp khác rõ hơn, đó là cha mẹ làm kỹ sư nông nghiệp (kỹ sư nông nghiệp), con cái có thể tiếp tục học nông nghiệp và trở thành những kỹ sư hoặc tiếp tục làm công việc của cha mẹ tại nơi cũ hoặc có thể chuyển tới thành phố khác, đất nước khác để tiếp tục phát triển nghề nông nghiệp mà họ yêu thích. Hoặc cũng có thể những người con không theo nghề nông nghiệp mà có thể trở thành họa sĩ, bác sĩ hoặc ca sĩ.
Hiện tượng này rất phố biến trong nền kinh tế thị trường hoặc những nền kinh tế phát triển, nơi luôn có các loại nghề nghiệp đa dạng. Ngoài ra còn có di động xã hội kèm di cư và không kèm di cư. Di động xã hội không kèm di cư chính là hiện tượng di động ngang/đa vị thế nghề nghiệp của một cá nhân đã được nói tới ở trên (di động xã hội theo chiều ngang).