Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

Nghiên cứu quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài, luận án TS kinh tế 60 31 01 01, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2011

240
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

1.1. NHẬN DIỆN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.2. Di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.3. Nguyên nhân, xu hướng và các giai đoạn di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.4. Ảnh hưởng kinh tế - xã hội của di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài

1.5. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI

1.5.1. Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.5.2. Chủ thể và đối tượng của quản lý nhà nước về di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.5.3. Nội dung quản lý nhà nước về di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc

1.6. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á VÀ NHỮNG GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.6.1. Quản lý nhà nước về di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc của một số nước

1.6.2. Một số gợi ý đối với quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

2.1. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

2.1.1. Quá trình đổi mới đường lối và chính sách đối ngoại

2.1.2. Quá trình đổi mới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.1.3. Đổi mới quản lý nhà nước đối với xuất khẩu dịch vụ và hiện diện thể nhân để cung cấp dịch vụ

2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

2.2.1. Hoạt động định hướng xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.2.2. Hoạt động tạo lập môi trường cho xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.2.3. Tổ chức hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.2.4. Hoạt động kiểm tra, giám sát và hỗ trợ hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC

2.3.1. Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia

2.3.2. Hiệu quả kinh tế - xã hội của di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc

2.3.3. Thành công và hạn chế của quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc

2.4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC

2.4.1. Những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô đối di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc

2.4.2. Vấn đề quản lý nhà nước đối với hệ thống doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động Việt Nam tham gia di chuyển ra nước ngoài làm việc

2.4.3. Vấn đề quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội liên quan đến hoạt động di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

3.1. DỰ BÁO XU HƯỚNG DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC

3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

3.1.2. Dự báo thị trường lao động Việt Nam và thị trường quốc tế

3.1.3. Các xu hướng di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

3.2. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

3.2.1. Đưa lao động ra nước ngoài làm việc là một hướng quan trọng để giải quyết việc làm và xuất khẩu dịch vụ

3.2.2. Chủ động lựa chọn và tham gia phân công lao động quốc tế theo chuỗi giá trị toàn cầu ở những phân khúc Việt Nam có lợi thế so sánh

3.2.3. Nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy thị trường lao động và thị trường dịch vụ trong nước phát triển nhanh, bền vững

3.2.4. Đảm bảo hài hòa lợi ích người lao động, lợi ích của doanh nghiệp và tổ chức, lợi ích Nhà nước Việt Nam, đồng thời đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế

3.2.5. Nhà nước quản lý với mức độ và phạm vi thích hợp trong từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hạn chế các khuyết tật của thị trường

3.2.6. Khuyến khích tính năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của người lao động, doanh nghiệp và tổ chức

3.3. HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

3.3.2. Nhóm giải pháp quản lý nhà nước nhằm nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động Việt Nam di chuyển ra làm việc ở nước ngoài

3.3.3. Nhóm giải pháp quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội trong di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

3.3.4. Các điều kiện chủ yếu đảm bảo thực hiện các giải pháp

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài

Quản lý di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Di chuyển lao động không chỉ giúp giải quyết việc làm cho người lao động mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, việc quản lý này còn nhiều thách thức và cần có những giải pháp hiệu quả.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của di chuyển lao động

Di chuyển lao động được hiểu là quá trình người lao động rời khỏi quê hương để làm việc tại các quốc gia khác. Tầm quan trọng của di chuyển lao động không chỉ nằm ở việc tạo ra thu nhập cho người lao động mà còn góp phần vào việc phát triển kinh tế quốc gia thông qua kiều hối.

1.2. Lịch sử di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài

Việt Nam bắt đầu thực hiện di chuyển lao động ra nước ngoài từ những năm 1980. Qua các giai đoạn, chính sách và phương thức xuất khẩu lao động đã có nhiều thay đổi, từ hợp tác quốc tế đến cơ chế thị trường, nhằm tối ưu hóa lợi ích cho người lao động và quốc gia.

II. Thách thức trong quản lý di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng quản lý di chuyển lao động Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn đến hình ảnh và uy tín của Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.

2.1. Vấn đề đào tạo và kỹ năng lao động

Một trong những thách thức lớn nhất là chất lượng lao động. Nhiều lao động Việt Nam chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp ở nước ngoài. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

2.2. Chi phí và rủi ro trong xuất khẩu lao động

Chi phí để đi làm việc ở nước ngoài thường cao và không minh bạch. Nhiều lao động phải vay mượn để chi trả, dẫn đến rủi ro tài chính lớn. Hơn nữa, việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động khi làm việc ở nước ngoài cũng chưa được thực hiện hiệu quả.

III. Phương pháp quản lý di chuyển lao động hiệu quả

Để cải thiện tình hình, cần có những phương pháp quản lý hiệu quả hơn. Việc áp dụng các chính sách phù hợp và tạo ra môi trường thuận lợi cho người lao động là rất cần thiết.

3.1. Tăng cường đào tạo và phát triển kỹ năng

Cần có các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao để nâng cao kỹ năng cho người lao động. Điều này không chỉ giúp họ có cơ hội việc làm tốt hơn mà còn nâng cao giá trị của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

3.2. Cải cách chính sách xuất khẩu lao động

Cần cải cách các chính sách liên quan đến xuất khẩu lao động để giảm thiểu chi phí và rủi ro cho người lao động. Việc minh bạch hóa thông tin và quy trình sẽ giúp người lao động có sự chuẩn bị tốt hơn trước khi ra nước ngoài làm việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về quản lý di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời.

4.1. Kết quả đạt được từ xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động đã giúp hàng triệu người có việc làm, cải thiện đời sống và đóng góp vào ngân sách quốc gia thông qua kiều hối. Tuy nhiên, cần có những biện pháp để tối ưu hóa lợi ích này.

4.2. Những bài học từ các quốc gia khác

Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý di chuyển lao động của các quốc gia khác có thể giúp Việt Nam rút ra bài học quý giá. Các quốc gia như Ấn Độ và Philippines đã có những chính sách thành công trong việc quản lý di chuyển lao động.

V. Kết luận và định hướng tương lai

Quản lý di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động và cải cách chính sách.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các chiến lược dài hạn để phát triển bền vững trong lĩnh vực di chuyển lao động. Điều này bao gồm việc nâng cao chất lượng đào tạo và bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia khác trong lĩnh vực di chuyển lao động sẽ giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm và cải thiện chính sách quản lý. Hợp tác quốc tế cũng giúp bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam ở nước ngoài.

25/07/2025
Quản lý nhà nước về di chuyển lao động việt nam ra làm việc ở nước ngoài luận án ts kinh tế 60 31 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Quản lý nhà nước về di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài - cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài. 1 Chƣơng 1 QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1- NHẬN DIỆN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG RA LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI 1.1- Các khái niệm cơ bản liên quan đến di chuyển lao động ra nƣớc ngoài làm việc 1.1- Lao động và việc làm Theo C.Mác, “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”[1, tr.

Lao động là hoạt động của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Sức lao động là tiềm năng trong mỗi con người, nó chỉ trở thành có ích khi được kết hợp với tư liệu lao động để tạo ra hàng hóa và dịch vụ người ta gọi đó là lao động. Trên thị trường lao động, người lao động tìm việc làm và người sử dụng lao động thuê lao động. Hiện nay, có nhiều quan niệm về việc làm.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”[23, tr 259]. Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… ) để sử dụng sức lao động đó”[23, tr. Trạng thái phù hợp giữa sức lao động với các yếu tố sản xuất được thể hiện ở tỷ lệ giữa giá trị tư liệu sản xuất (C) và giá trị sức lao động (V) do cấu tạo kỹ thuật quy định. Mối quan hệ tỷ lệ C/V được C.

Mác gọi là cấu tạo hữu cơ. Cấu tạo hữu cơ phản ánh trình độ công nghệ của nền sản xuất. Trình độ công nghệ của sản xuất càng cao, thì giá trị tư liệu sản xuất tính trên một đơn vị giá trị sức lao động càng lớn, do đó, cấu tạo hữu cơ càng cao và ngược lại. Ngày nay, dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, thì tỷ lệ C/V càng lớn.

Điều 13, Luật Lao động Việt Nam (1994) quy định “mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Theo đó, hoạt động được coi là việc làm khi hội đủ hai điều kiện: một là: tạo ra nguồn thu nhập; hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Từ điển Luật học Việt Nam, đưa ra định nghĩa “Việc làm là hoạt động lao động hợp pháp, tương đối ổn định, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập”. 1 Với mục đích nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng khái niệm việc làm của Từ điển Luật học để tiếp cận vấn đề nghiên cứu xuyên suốt luận án.

Theo đó, việc làm trước hết là hoạt động lao động, hai là, hợp pháp và ba là, tạo ra thu nhập hoặc có khả năng tạo ra thu nhập.2- Thị trường lao động và phân đoạn thị trường lao động Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là đối tượng mua bán trên thị trường hình thành nên thị trường sức lao động mà người ta gọi tắt là thị trường lao động. * Khái niệm về thị trƣờng lao động Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường lao động. Theo Từ điển kinh tế học Pengiun và từ điển kinh tế MIT: “Thị trường lao động là thị trường trong đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động”[23, tr. Khái niệm này nhấn mạnh quan hệ cung cầu, giá cả và điều kiện lao động.

Đại Từ điển kinh tế thị trường định nghĩa: “Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động của người lao động”[68, tr. Khái niệm này dựa trên luận điểm của C.Mác, sức lao động là đối tượng mua bán, trao đổi trên thị trường sức lao động; những người theo quan điểm này cho rằng nên gọi đúng là thị trường sức lao động. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng, thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua, bán thông qua quá trình xác định mức độ việc làm và tiền công lao động. Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học kinh tế quốc dân định nghĩa: “Thị trường lao động là tập hợp các hoạt động nhằm trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động; qua đó, giá cả, điều kiện làm việc và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định”[23, tr.

Khái niệm này nhấn mạnh các hoạt động trên thị trường, trong đó hoạt động mua bán sức lao động là trung tâm, giá cả sức lao động và điều kiện làm việc được xác định bằng quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, hàng hoá sức lao động chỉ tồn tại trong từng con người cụ thể, có đời sống vật chất, văn hoá, tư tưởng, tình cảm, tinh thần, v.v… , nói cáh khác, hàng hoá sức lao động còn gắn với các quan hệ khác ngoài quan hệ hợp đồng lao động. Với mục đích nghiên cứu của mình, tác giả đề xuất khái niệm: Thị trường lao động là tổng thể các quan hệ và hoạt động nhằm trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động; qua đó, tiền lương, điều kiện làm việc và các quan hệ khác được xác lập bằng hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động của các nước tham gia và điều ước quốc tế. Thông qua các quan hệ và các hoạt động mua bán giữa người sử dụng lao động và người lao động, các nội dung cơ bản của việc mua bán là giá cả sức lao động (tiền lương), chất lượng lao động, số lượng lao động, điều kiện làm việc và các quan hệ 1 khác giữa bên bán và bên mua được xác lập bằng hợp đồng lao động theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia và điều ước quốc tế.

* Phân đoạn thị trƣờng lao động Phân đoạn thị trường lao động là việc phân chia thị trường lao động thành các đoạn, khúc khác nhau để phân tích phạm vi, quy mô, tính chất, trình độ phát triển, v.v… ; từ đó, đề ra chính sách định hướng thị trường. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, thị trường lao động được phân đoạn theo không gian và phân đoạn thang bậc trong chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVC). - Phân đoạn theo không gian: Phân đoạn theo không gian (phạm vi địa lý) thị trường lao động gồm có: thị trường lao động trong nước, thị trường lao động quốc tế, thị trường lao động khu vực hoặc thị trường lao động trong một liên minh kinh tế và thị trường lao động thế giới. Dưới đây là khái niệm và các đặc trưng cơ bản của các thị trường lao động.

+ Thị trường lao động trong nước Theo Đại từ điển kinh tế thị trường: “Thị trường lao động trong nước là nơi quan hệ mua bán sức lao động trong nước. Vô luận là người có nhu cầu sức lao động - chủ thuê hoặc xí nghiệp hay là người cung cấp sức lao động đều là xí nghiệp hoặc công dân của cùng một nước. Giá cả sức lao động - tiền lương - được xác định căn cứ vào giá trị năng lực lao động của người lao động và tổng lượng cung cầu sức lao động trong phạm vi cả nước”[68, tr. Khái niệm này chưa phản ánh các hoạt động trên thị trường nội địa, chưa đề cập đến các quan hệ khác trên thị trường lao động và đặc biệt là chưa nêu lên quan hệ hợp đồng lao động theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia.

Vì vậy, tác giả đề xuất khái niệm: Thị trường lao động trong nước là tổng thể các quan hệ và hoạt động nhằm trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động diễn ra trong lãnh thổ của một quốc gia; qua đó, tiền lương, điều kiện làm việc và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia. Thị trường lao động trong nước có các đặc trưng cơ bản: các quan hệ và hoạt động mua bán, trao đổi sức lao động, tiền lương, điều kiện làm việc và các quan hệ khác diễn ra trong lãnh thổ của một quốc gia và tuân thủ pháp luật lao động của quốc gia đó. + Thị trường lao động quốc tế Theo Đại từ điển kinh tế thị trường,“Thị trường lao động quốc tế là nơi quan hệ mua bán sức lao động trên quốc tế. Người cung cấp và lượng nhu cầu sức lao động không thuộc về cùng một quốc gia, lưu động của sức lao động vượt qua biên giới 1 quốc gia.

Thị trường lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế giới”[68, tr. Khái niệm trên chỉ ra mấy đặc trưng cơ bản của thị trường lao động quốc tế là: hàng hoá mua bán trên thị trường là sức lao động, người mua và người bán sức lao động không cùng một quốc gia và sức lao động có sự di chuyển ra khỏi lãnh thổ của một nước. Khái niệm trên chưa chỉ ra phương thức mua bán sức lao động. Tác giả đề xuất khái niệm: Thị trường lao động quốc tế là tổng thể các quan hệ và hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia; qua đó, tiền lương, điều kiện làm việc và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định theo quy định của pháp luật lao động nơi lao động làm việc, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Khái niệm của tác giả chỉ ra rằng, trên thị trường lao động quốc tế, các chủ thể tham gia thị trường lao động mang quốc tịch khác nhau, hàng hóa sức lao động di chuyển từ nước này đến nước khác hình thành nên hiện tượng di chuyển quốc tế sức lao động và việc mua bán sức lao động phải tuân thủ pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ