Tổng quan nghiên cứu
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá kết tinh bản sắc dân tộc và là nguồn lực tinh thần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại tỉnh Thanh Hóa, hệ thống di tích tưởng niệm cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248 Sau Công nguyên gồm 5 điểm di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích cấp quốc gia và 3 di tích cấp tỉnh. Đền thờ Bà Triệu (thường gọi là Đền Tía) tọa lạc tại làng Vân Cổn, xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 288/QĐ-SVHTT ngày 15 tháng 11 năm 1992. Đền Tía nằm ở vị trí chiến lược dưới chân núi Tía cao khoảng 30 mét, vốn là tiền đồn căn cứ luyện binh của nghĩa quân Triệu Thị Trinh và người anh Triệu Quốc Đạt trong cuộc khởi nghĩa cách đây hơn 1770 năm.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng quản lý di tích cấp cơ sở còn nhiều bất cập, nguy cơ xuống cấp công trình và sự mai một của các nghi lễ truyền thống. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng quản trị bộ máy, công tác trùng tu, bảo tồn cảnh quan và nguồn lực xã hội hóa tại di tích trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2021. Trên phạm vi diện tích tự nhiên 1.363,51 ha của xã Vân Sơn với 839,39 ha đất nông nghiệp, luận văn xác định các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần gia tăng chỉ số bảo tồn di sản bền vững và tạo động lực phát triển du lịch văn hóa - tâm linh của địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về di sản văn hóa dựa trên Điều 54 Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và lý thuyết bảo tồn thích ứng trong quản lý di tích lịch sử. Khung nghiên cứu tích hợp hệ thống 8 nội dung quản lý nhà nước, tập trung vào các khâu cốt lõi: hoạch định quy hoạch, tổ chức bộ máy, thực thi pháp luật, kiểm tra giám sát và huy động các nguồn lực xã hội. Nghiên cứu sử dụng 4 khái niệm nền tảng bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa theo định nghĩa pháp lý, quản lý di tích, không gian thiêng - cảnh quan di sản và xã hội hóa bảo tồn di tích. Cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước được chuẩn hóa qua Hiến chương Venice năm 1964 gồm 16 điều hướng dẫn về trùng tu di tích, Nghị định số 166/2018/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 15/2019/TT-BVHTTDL quy định chi tiết hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm tư liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ khoa học xếp hạng di tích năm 1993 của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, báo cáo kinh tế - xã hội của xã Vân Sơn giai đoạn 2015-2020 và nguồn tư liệu điền dã thực địa. Luận văn tiến hành khảo sát với cỡ mẫu gồm 50 đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý văn hóa huyện Triệu Sơn, lãnh đạo xã Vân Sơn, thành viên ban thủ từ cùng 30 du khách và người dân bản địa. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp chọn mẫu thuận tiện nhằm thu thập sâu sắc quan điểm của các nhóm chủ thể trực tiếp tham gia vận hành di tích. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp liên ngành giữa văn hóa học, sử học và quản lý học; việc lựa chọn phương pháp này giúp bóc tách các tầng giá trị lịch sử từ thế kỷ III, đồng thời phân tích định lượng dòng tài chính công đức và thực trạng bộ máy quản lý theo mốc thời gian từ năm 1992 đến năm 2021.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, về kiến trúc và hiện trạng trùng tu, Đền Tía từng bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1956 do chiến tranh và được nhân dân cùng chính quyền phục dựng từ ngày 6 tháng 3 năm 1991 đến ngày 15 tháng 3 năm 1993. Quần thể hiện tại sở hữu khuôn viên sân gạch bát rộng 198 mét vuông (kích thước 22m x 9m), nhà tiền tế 3 gian 2 chái rộng 104 mét vuông (16m x 6,5m) và hậu cung 3 gian nối tiếp dài 12m, rộng 6m với trần cao 4m. Do điều kiện kinh phí hạn chế tại thời điểm tái thiết, toàn bộ kết cấu chịu lực bằng gỗ truyền thống đã bị thay thế 100% bằng bê tông cốt thép, làm suy giảm khoảng 45% giá trị kiến trúc nguyên gốc so với quy chuẩn di tích truyền thống.
Thứ hai, cơ cấu tổ chức quản lý di tích phân cấp theo mô hình 3 tầng nấc nhưng bộc lộ nhiều điểm nghẽn về năng lực chuyên môn. Ban quản lý di tích xã Vân Sơn gồm 1 Trưởng ban, 2 Phó ban kiêm nhiệm; việc coi sóc hằng ngày giao cho Ban Nhà đền gồm 2 cụ cao niên theo Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 11 tháng 1 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã. Đội ngũ trực tiếp trông coi đạt 100% là người cao tuổi giàu nhiệt huyết nhưng 0% có chứng chỉ chuyên môn về nghiệp vụ bảo tồn và quản lý di sản.
Thứ ba, công tác tổ chức lễ hội ngày 16 tháng 2 âm lịch hằng năm duy trì được nghi thức rước kiệu đặc sắc với sự tham gia của 8 nam thanh niên khiêng kiệu Đức Ông, 8 nữ tú khiêng kiệu Bà Triệu và đội nghi trượng 32 người vác gươm bát bửu. Tuy nhiên, nguồn thu từ tiền công đức và giọt dầu chỉ đáp ứng khoảng 65% tổng chi phí tổ chức lễ hội và bảo dưỡng thường xuyên, buộc ngân sách địa phương phải cấp bù khoảng 35% mỗi năm.
Thảo luận kết quả
Thực trạng nêu trên phản ánh sự thiếu hụt quy hoạch tổng thể và cơ chế tài chính bền vững cho các di tích cấp tỉnh tại vùng nông thôn. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc xã hội hóa chưa được chuyên nghiệp hóa, dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí duy tu định kỳ. Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu tài chính (tỷ lệ công đức so với ngân sách bù đắp) và bảng ma trận đánh giá năng lực quản lý di tích cấp cơ sở. So sánh với Di tích quốc gia đặc biệt đền Bà Triệu tại huyện Hậu Lộc (được xếp hạng năm 1989), Đền Tía tại Triệu Sơn chưa thiết lập được chuỗi liên kết tour du lịch văn hóa Ngàn Nưa - Am Tiên, làm giảm đáng kể hiệu quả quảng bá giá trị di sản ra ngoài địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, kiện toàn và chuẩn hóa bộ máy nhân sự quản lý di tích. Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn và Ủy ban nhân dân xã Vân Sơn cần tái cấu trúc Ban quản lý di tích trong giai đoạn 2022-2024, phấn đấu đạt mục tiêu 100% cán bộ văn hóa và thành viên ban khánh tiết được bồi dưỡng ít nhất 2 khóa nghiệp vụ chuyên sâu về bảo quản hiện vật và quản lý lễ hội mỗi năm.
Thứ hai, đa dạng hóa cơ chế tài chính và minh bạch hóa nguồn thu xã hội hóa. Ban quản lý di tích xã Vân Sơn cần áp dụng quy chế quản lý tiền công đức theo đúng quy định, phân định rõ tài khoản tu bổ và tài khoản chi tiêu sự nghiệp trong giai đoạn 2023-2025; đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ tự chủ kinh phí tổ chức lễ hội và trùng tu lên 90% đến 100%, giảm mức phụ thuộc vào ngân sách xã xuống dưới 10%.
Thứ ba, lập quy hoạch bảo tồn tổng thể và phục dựng cảnh quan di tích nguyên gốc. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Triệu Sơn phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa triển khai đề án tu bổ Đền Tía giai đoạn 2023-2030, thay thế dần các chi tiết bê tông bằng vật liệu gỗ tự nhiên truyền thống tại khu vực tiền tế và hậu cung, khôi phục giếng Tiên cổ phía sau đền.
Thứ tư, khai thác giá trị di tích gắn với phát triển du lịch văn hóa tâm linh. Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn chủ trì kết nối Đền Tía vào tuyến du lịch Quần thể di tích lịch sử Núi Nưa - Đền Nưa - Am Tiên trước năm 2025, đặt mục tiêu tăng trưởng lượng du khách tham quan từ 25% đến 30% mỗi năm.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa dữ liệu di sản. Ban Văn hóa xã Vân Sơn cần triển khai hệ thống quét mã QR tra cứu lịch sử Đền Tía, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa 100% hiện vật, văn bia và thần tích phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục học đường từ năm 2023.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất bao gồm cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, công chức văn hóa - xã hội cấp xã và các cơ quan tham mưu chính sách văn hóa cơ sở; tài liệu này cung cấp khung hướng dẫn thực tế về phân cấp quản lý, tổ chức lễ hội và giải quyết tranh chấp đất đai di tích.
Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Lịch sử Việt Nam và Văn hóa học; luận văn đóng vai trò là tư liệu điền dã chuyên sâu về hệ thống di tích thờ Bà Triệu tại vùng đất Cửu Chân cổ.
Nhóm thứ ba gồm các doanh nghiệp lữ hành, đơn vị phát triển du lịch và nhà hoạch định chiến lược kinh tế địa phương; công trình cung cấp các gợi mở thực tế để xây dựng sản phẩm du lịch về nguồn kết nối 5 điểm di tích thờ Bà Triệu tại Thanh Hóa.
Nhóm thứ tư là cộng đồng cư dân địa phương, ban thủ từ, các hội người cao tuổi và ban khánh tiết tại các làng xã; tài liệu giúp nâng cao hiểu biết pháp luật về Luật Di sản văn hóa, bài trừ mê tín dị đoan và thực hiện nếp sống văn minh nơi thờ tự.
Câu hỏi thường gặp
Đền thờ Bà Triệu (Đền Tía) xã Vân Sơn có giá trị lịch sử tiêu biểu nào so với các điểm di tích khác thờ Bà Triệu tại Thanh Hóa?
Đền Tía tọa lạc tại chân núi Tía, vùng đất Kẻ Nưa cổ, là tiền đồn căn cứ luyện binh đầu tiên của cuộc khởi nghĩa năm 248 do Bà Triệu và Triệu Quốc Đạt lãnh đạo. Nơi đây lưu giữ dấu tích lịch sử gắn liền với truyền thuyết khao quân và giếng Tiên, khẳng định ý chí độc lập chống ách đô hộ nhà Ngô cách đây hơn 1770 năm.
Tại sao công tác trùng tu Đền Tía giai đoạn 1991-1993 lại sử dụng bê tông cốt thép thay vì vật liệu gỗ truyền thống?
Giai đoạn 1991-1993, điều kiện kinh tế của địa phương và ngân sách ngành văn hóa còn nhiều khó khăn, trong khi di tích đã bị phá hủy thành phế tích từ năm 1956. Do nhu cầu cấp thiết về không gian sinh hoạt tâm linh và bảo quản đồ thờ tự, chính quyền và nhân dân đã lựa chọn phương án xây dựng bằng xi măng cốt thép để tối ưu hóa chi phí.
Mô hình phân cấp quản lý Đền Tía hiện nay được phân định thẩm quyền như thế nào giữa các cấp chính quyền?
Theo quy định hiện hành, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa thực hiện quản lý toàn diện; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước chuyên ngành; Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chỉ đạo trực tiếp; Ủy ban nhân dân xã Vân Sơn cùng Ban quản lý di tích cấp xã trực tiếp quản lý cơ sở và phối hợp với Ban Nhà đền điều hành hoạt động thường nhật.
Lễ hội Đền Tía vào ngày 16 tháng 2 âm lịch có những nghi thức tâm linh và trò chơi dân gian đặc sắc nào?
Lễ hội nổi bật với lễ rước kiệu Vua Bà do 8 nữ thanh niên và kiệu Đức Ông do 8 nam thanh niên đảm nhiệm, di chuyển từ đền chính lên đỉnh núi Tía tế lễ cùng đội nghi trượng 32 người. Phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian truyền thống như kéo co nữ, biểu diễn võ thuật cổ truyền và giao lưu thi hát chầu văn giữa các thôn làng.
Giải pháp nào khả thi nhất để khắc phục tình trạng thiếu hụt kinh phí quản lý và tu bổ Đền Tía?
Giải pháp then chốt là đẩy mạnh công tác xã hội hóa, lập đề án công khai các nguồn thu tiền công đức và tài trợ theo đúng quy định tài chính hiện hành. Việc kết nối Đền Tía vào mạng lưới du lịch tâm linh Ngàn Nưa - Am Tiên sẽ tạo nguồn thu dịch vụ bền vững, giúp tăng tỷ lệ tự chủ tài chính lên trên 90%.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh, phân tích chi tiết quy chuẩn Điều 54 Luật Di sản văn hóa trên địa bàn xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn.
- Công trình làm rõ giá trị lịch sử và hiện trạng kiến trúc Đền Tía qua diện tích 198 mét vuông sân đền, cấu trúc 3 gian tiền tế và 3 gian hậu cung sau đợt tái thiết giai đoạn 1991-1993.
- Nghiên cứu chỉ rõ các hạn chế cốt lõi trong bộ máy quản lý kiêm nhiệm, sự thiếu hụt chuyên môn bảo tồn của 100% nhân sự trực tiếp trông coi và tình trạng thiếu hụt 35% kinh phí hoạt động lễ hội hằng năm.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về chuẩn hóa nhân sự, đa dạng hóa nguồn tài chính, tu bổ kiến trúc nguyên gốc, số hóa di sản và phát triển du lịch giai đoạn 2022-2030.
- Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương cần nhanh chóng triển khai các khuyến nghị nhằm bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản Đền Tía, kết nối du lịch vùng Ngàn Nưa và lan tỏa tinh thần yêu nước bất khuất của nghĩa quân Bà Triệu đến thế hệ mai sau.