CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Khi đề cập đến vấn đề QLGD thì tất yếu phải nói đến hoạt động QL. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu hoạt động QL không tốt thì quá trình GD&ĐT trong nhà trường cũng không đạt được những mục tiêu mong muốn. Ngược lại, mục đích, mục tiêu GD&ĐT của nhà trường đạt được một cách tốt đẹp, thì trong đó có sự đóng góp lớn của hoạt động QL, từ Ban giám hiệu đến các đơn vị, cá nhân và các lực lượng liên quan trong nhà trường.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà QL nước ngoài đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của QL và QLGD: ở phương Tây nhà triết học Platon (427 – 347 TCN), H. Ở phương Đông có Khổng Tử (551 – 479 TCN), đến thời chiến quốc có Mạnh Tử (372 – 289 TCN). là những người có cống hiến lớn cho khoa học QL, cho sự phát triển giáo dục của thế giới ngày càng mạnh mẽ. Quản lý giáo dục, QL nhà trường là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm.
Việc chú trọng tới các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy - học trong nhà trường luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Giáo dục nước ta tới nay đã trên 20 năm đổi mới nhưng vẫn còn có những hạn chế, nhất là về chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển của xã hội, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin - giáo dục cần thiết hơn bao giờ hết để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, củng có niềm tin và kích thích hành động. Vì vậy, nhiều nhà khoa học Việt Nam thời kỳ hiện đại cũng đã có những công trình nghiên cứu về QL trong hoạt động dạy học, hoạt động QLGD đã đạt được những thành tựu nhất định như: các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD Phạm Minh Hạc, Đặng Bá Lãm, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải …nghiên cứu về vấn đề QL hoạt động dạy học có nhiều tác giả có những nghiên cứu thành công như: Phan Tiềm (2002), Đỗ Văn Tải (2006). Trên bình diện học thuật viết về vấn đề PP dạy 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học môn mỹ thuật tác giả Nguyễn Quốc Toản, Đàm Luyện viết về đổi mới PP dạy học mỹ thuật, tác giả Nguyễn Năng Bình “Đổi mới trong dạy Mỹ thuật ở trung học cơ sở”.
Những năm gần đây với sự hướng dẫn của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, đã có rất nhiều thạc sĩ chuyên ngành QLGD nghiên cứu về vấn đề QL theo bậc học và ngành học, như tác giả Nguyễn Thị Lan với "Những biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Hoạ trung ương", tác giả Dương Đức Hùng về “Vấn đề quản lí công tác học sinh - sinh viên trường Đại học Hải Phòng”. Qua quá trình nghiên cứu về QL hoạt động dạy - học, chúng tôi thấy cần phải làm rõ hơn về QL hoạt động dạy và học mỹ thuật đối với trường ĐH Hải Phòng, việc xây dựng cơ sở lý luận sẽ giúp cho nhà QL có cơ sở điều hành tốt công việc chuyên môn của nhà trường nói chung và hoạt động dạy - học mỹ thuật nói riêng. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Những khái niệm liên quan đến lĩnh vực quản lý 1.
Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Nó phát triển không ngừng và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về QL được hình thành và phát triển qua các thời kỳ, trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình QL và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”.Taylor phát biểu các nguyên lý về QL thì QL nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học.
Bất cứ một tổ chức nào, bao giờ cũng có hai phân hệ: người QL và đối tượng bị QL. Có thể điểm qua một số lý thuyết về QL như sau: Khái niệm QL được giải trình từ nhiều góc độ. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [28, tr.35] 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL là một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [20, tr. Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động QL là “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, tr.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” “Ổn định mà không phát triển thì dẫn đến suy thoái. Phát triển mà không ổn định thì dẫn đến rối ren. Vậy, QL = ổn định + phát triển” [2. Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận về quản lý, song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất chung của hoạt động quản lý đó là: QL là sự tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
QL là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể QL. QL xét đến cùng, bao giờ cũng là QL con người nên QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật một cách khách quan. Các chức năng cơ bản của quản lý Chức năng QL là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể QL phải thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đề ra. Chức năng QL là dạng hoạt động QL thông qua đó chủ thể QL tác động vào khách thể QL nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.
Chức năng QL là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích nên QL có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Mối quan hệ giữa các chức năng QL được thể hiện qua sơ đồ sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Mối quan hệ của các chức năng quản lý Kế hoạch Tổ chức Quản lý Chỉ đạo Kiểm tra Lập kế hoạch: Là khâu đầu tiên của quy trình QL. Công tác kế hoạch là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi không chắc chắn trong tương lai, do vậy nhà QL cần phải thận trọng, khi thực hiện chức năng này. Tổ chức: là sự chuyển hóa những ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực.
Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp của công tác kế hoạch và là bộ phận không thể thiếu của chức năng QL. Chỉ đạo: Là điều kiện hệ thống, là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên. Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể nhằm điều hành, tổ chức nhân lực đã có của tổ chức vận hành đúng theo kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Kiểm tra: Là chức năng cơ bản của QL.
Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đã đạt được trên thực tế, so sánh đối chiếu với mục tiêu, thu thập các thông tin phản hồi nhằm phát hiện các sai lệch và vạch ra chương trình hành động nhằm khắc phục những sai lệch đó. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các chức năng cơ bản của QL gắn kết với nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất của hoạt động QL. Chủ thể QL khi triển khai hoạt động QL đều thực hiện quy trình này. Quản lý giáo dục QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, của chủ thể QLGD tới đối tượng của QLGD nhằm thực hiện được các mục tiêu GD đã được đặt ra.
Khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau. Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của nhà QLGD tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”[6] Trong cuốn Giáo dục học Phạm Viết Vượng đã viết: “Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hành phúc của bản thân và xã hội” [33, tr. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [28,tr. Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL đến tập thể giáo viên và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu.
Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người QL với người dạy học và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa giáo viên với HS, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV - HS và CSVC phục vụ cho giáo dục, trong đó nhà trường là đối tượng cuối cùng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và cơ bản nhất của QLGD, đội ngũ giáo viên và HS là đối tượng QL quan trọng nhất. Quản lý nhà trường Trong hệ thống GD, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu. Hầu hết các hoạt động GD đều được thực hiện thông qua hệ thống nhà trường.