Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách ở cấp huyện Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách ở cấp huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An Chương 4.
Phương hướng và giải pháp để tăng cường Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách ở cấp huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH Ở CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến QLNN đố i với đầ u tƣ XDCB từ nguồn vố n NSNN nhƣ: - Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguy ễn Thị Bảo Hƣờng: “Tăng cường công tác QLNN đối với các dự án đầu tư XDCB ngân sách tỉnh Thái Nguyên” (2011). Trên cơ sở những vấn đề lý luận về QLNN đối đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn ngân sách; đề tài đã phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tƣ XDCB thông qua các công cụ pháp luật, cơ chế chính sách, công tác quy hoạch, giám sát việc thực hiện của các chủ dự án, với mục tiêu làm sao cho các dự án mang lại hiệu quả cao nhất.
- Đề tài : “Quản lý vốn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội” (2007), luận văn thạc sĩ kinh tế của Lê Toàn Thắng. Để tài đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN của Thành phố Hà Nội; từ đó, rút ra các thành tƣu, hạn chế và nguyên nhân của nó, nêu ra sự cần thiết phải quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN của thành phố Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của Nguy ễn Thị Thanh: “Tăng cường QLNN đối với các dự án đầu tư XDCB từ NSNN thành phố Hà Nội” (2008),. Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến QLNN đối các dự án đầu tƣ XDCB tƣ̀ nguồn vốn NSNN; nêu, phân tích, đánh giá thực trạng 5 QLNN của thành phố Hà Nội; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cƣờng QLNN đối với các dự án đầu tƣ XDCB tƣ̀ vốn NSNN. Luận văn đã phân tích các nội dung QLNN đối với dự án đầu tƣ xây dựng công trình ở khía cạnh công cụ pháp luật, và công tác thanh tra, kiểm tra công tác quản lý dƣ̣ án đầ u tƣ XDCB tƣ̀ vốn NSNN. - Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Chí Hiền : “Vai trò của nhà nước đối với đầ u tư XDCB từ vố n ngân sách trên đi ̣a bàn tỉnh Nam Đi ̣nh” (2010).
Luận văn đã nêu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác QLNN đối hoạt động đầu tƣ XDCB từ vốn ngân sách; Đề tài đã phân tích và đánh giá thực trạng vai trò nhà nƣớc đối với công tác đầu tƣ XDCB, qua đó đƣa ra một số giải pháp với mục đích tăng cƣờng hơn nữa vai trò QLNN đối với hoạt động đầu tƣ XDCB ngân sách. Qua tìm hiểu và nghiên cứu các luận văn nói trên, thấy rằng: các luận văn đều đã đề câ ̣p đế n cơ sở lý luận công tác quản lý đầu tƣ XDCB và một số nội dung về công tác QLNN đố i với đầ u tƣ XDCB t ừ vố n ngân sách ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, các luận văn nói trên chƣa đ ề cập đến phạm vi QLNN đối với đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN ở cấp huyện; chƣa nghiên cƣ́u sâu về các nô ̣i dung của công tác quản lý nhà nƣớc, chƣa phân tích đƣợc cụ thể vai trò của quy trình quản lý đầ u tƣ XDCB t ừ vố n ngân sách trong quá trình đầu tƣ, tƣ̀ giai đoạn chuẩ n bi ̣đầ u tƣ, thƣ̣c hiê ̣n đầ u tƣ đến giai đoạn kế t thúc đầ u tƣ; chƣa phân tích một số công cu ̣ quan tro ̣ng trong công tác quản lý đầu tƣ XDCB nhƣ: hồ sơ khảo sát, thiế t kế kỹ thuâ ̣t thi công; chƣa đi sâu phân tích và đánh giá thƣ̣c tra ̣ng để từ đó đƣa ra giải pháp nhằm tăng cƣờng vai trò công tác thanh tra, kiể m tra, kiểm định, giám sát hoạt động đầu tƣ XDCB từ vố n ngân sách. Vì vậy, đề tài này vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là đối với cấp huyện ở tỉnh Nghệ An.
Những vấn đề lí luận và thực tiễn về QLNN đối với đầu tƣ XDCB từ vốn NSNN 1. Khái niệm về đầu tƣ và đầu tƣ XDCB 6 Đầu tƣ theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai, mà kết quả này thƣờng phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất hay sức lao động. Theo nghĩa hẹp, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó.
Từ đó, khái niệm về đầu tƣ nhƣ sau: Đầu tƣ là sự bỏ ra, sự hy sinh những nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, tài nguyên, trí tuệ .) nhằm đạt đƣợc những kết quả có lợi cho chủ đầu tƣ hoặc xã hội trong tƣơng lai. Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể với chức năng tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị…) thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục, sửa chữa các tài sản cố định. Kết quả của các hoạt động XDCB là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định. Đầu tƣ XDCB là những hoạt động đầu tƣ, với chức năng tạo ra TSCĐ cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc sửa chữa, khôi phục các TSCĐ.
Đầu tƣ XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tƣ phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các TSCĐ trong nền kinh tế. Do vậy, đầu tƣ XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tƣ XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra TSCĐ đƣa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tƣ XDCB trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thông qua nhiều hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục TSCĐ. Đầu tƣ XDCB từ vốn NSNN: Khái niêm, ̣ vai trò và đă ̣c điể m 7 1. Khái niệm Đầu tƣ XDCB từ vốn NSNN là quá trình nhà nƣớc bỏ vốn từ ngân sách (toàn bộ hoặc một phần giá trị đầu tư) để tiến hành các hoạt động XDCB, nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, để nhằm phát triển kinh tế, xã hội (thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định). Vai trò của đầu tƣ XDCB từ vốn NSNN đối với phát triển kinh tế, xã hội Đầu tƣ XDCB có vao trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của tất cả các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Hoạt động đầu tƣ XDCB có vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội theo hƣớng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và các nguồn lực khác trong xã hội. Đầu tƣ XDCB trƣớc hết là hoạt động đầu tƣ nên có những vai trò chung của hoạt động đầu tƣ nhƣ: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trƣởng và phát triển kinh tế, tăng cƣờng khả năng phát triển khoa học và công nghệ. Bên cạnh đó, đầu tƣ XDCB có tính chất đặc thù riêng, là điều kiện trƣớc tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có vai trò ảnh hƣởng riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Thứ nhấ t, đầu tư XDCB tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi tăng cƣờng đầu tƣ XDCB, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng , sẽ làm sức sản xuất vật chất và dịch vụ của các ngành phát triển , hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân.
Nhƣ vậy, đầu tƣ XDCB đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nƣớc, tăng tích luỹ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của ngƣời lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế, xã hội. Đầu tƣ XDCB tác động đến sự phát triển của ngành, lãnh thổ, thành phần kinh 8 tế. Chính sách đầu tƣ ảnh hƣởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Do vậy, các ngành, các địa phƣơng trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tƣ dài hạn để phát triển ngành, vùng đảm bảo sự phát triển cân đối; đồng thời, có kế hoạch ngắn hạn và trung hạn, nhằm phát triển từng bƣớc và điều chỉnh cho phù hợp với các mục tiêu đặt ra.