chương I, Luật NSNN được Quốc hội ban hành ngày 16/12/2002 thì: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Phân loại nguồn vốn NSNN - Vốn trong nước và vốn ngoài nước + Nguồn vốn thu trong nước như thu thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước và các khoản thu khác. + Nguồn vốn từ nước ngoài là nước ngoài tài trợ theo nội dung, địa chỉ sử dụng cụ thể theo cam kết của Nhà nước (hoặc Nhà nước chấp thuận cho đơn vị cam kết với nhà tài trợ). 10 - Căn cứ vào phân cấp quản lý + Vốn đầu tư của ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách nhà nước nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia.
Nguồn vốn này được Chính phủ điều hành và giao cho các bộ, ngành, địa phương quản lý sử dụng. + Vốn đầu tư của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản của ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó. Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện. - Căn cứ mức độ kế hoạch hóa + Vốn đầu tư xây dựng công trình tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Vốn đầu tư xây dựng công trình từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội. + Vốn đầu tư phát triển theo chương trình dự án quốc gia. + Vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN nhưng được để lại đơn vị để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất như: truyền hình, thu học phí… - Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản + Vốn ngân sách nhà nước bao gồm cả ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được hình thành từ tích lũy của nền kinh tế quốc dân. Vốn NSNN được sử dụng cho những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trồng rừng đầu nguồn, rừng quốc gia, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm giam, trại, động thực vật, nghiên cứu giống mới, cải tạo vốn, các công trình văn hóa- xã hội, y tế giáo dục, nghiên cứu khoa học, các công trình quản lý nhà nước, công trình an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái.
+ Vốn tín dụng đầu tư bao gồm vốn tín dụng đầu tư nhà nước và vốn tín dụng ngân hàng đầu tư và phát triển do ngân hàng nhà nước cấp. Vốn tín 11 dụng đầu tư nhà nước được hình thành do chuyển từ ngân sách nhà nước để vay theo hình thức tín dụng ưu đãi và vốn nhà nước vay viện trợ của nước ngoài qua hệ thống ngân sách nhà nước được chuyển sang cho tổng cục đầu tư và phát triển. + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế hay là nguồn vốn tự cân đối dành cho đầu tư của các đơn vị kinh tế cơ sở, được hình thành từ lợi nhuận khấu hao cơ bản, tiền thanh lý tài sản và các nguồn vốn theo quy định của Nhà nước. Nguồn vốn này được dùng để đầu tư xây dựng, cải tạo mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và các công trình phúc lợi của đơn vị.
+ Vốn huy động từ nhân dân được đầu tư vào các công trình dự án trực tiếp đem lại lợi ích cho người góp vốn như các công trình thủy lợi, công trình giao thông nông thôn. - Căn cứ vào Chủ đầu tư + Chủ đầu tư là Nhà nước + Chủ đầu tư là các doanh nghiệp + Chủ đầu tư là các cá thể riêng lẻ - Căn cứ vào cơ cấu đầu tư. + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các ngành kinh tế; + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các địa phương và vùng lãnh thổ. + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo các thành phần kinh tế.
- Căn cứ theo thời gian kế hoạch. + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngắn hạn (Dưới 5 năm). + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản trung hạn (Từ 5 đến 10 năm). + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản dài hạn (Từ 10 năm trở lên).
Đặc điểm và vai trò nguồn vốn NSNN Đặc điểm nguồn vốn NSNN 12 NSNN là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước. Hoạt động đó được biểu hiện một cách đa dạng và phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Tuy vậy, chúng cũng có những đặc điểm chung như sau: - Các hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. - Các hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong thời kỳ.
- Hoạt động thu chi của NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích, nhất định trong đó lợi ích quốc gia, lợi ích của tổng thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác. - Hoạt động thu chi của NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. - NSNN mang tính kế hoạch và cân đối. - Hoạt động thu chi của NSNN gắn chặt với thực trạng của nền kinh tế và các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, tỉ giá hối đoái.
- Hoạt động thu chi NSNN thực chất là sự phân chia nguồn lực tài chính quốc gia nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội. Vai trò nguồn vốn NSNN NSNN là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong giai đoạn đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và duy trì quyền lực của Nhà nước. NSNN đóng vai trò là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cung cấp nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành kinh tế then chốt, tạo môi trường cho các 13 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, NSNN còn đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Nhà nước đóng vai trò chủ thể thường xuyên, chủ thể quyền lực trong quan hệ giữa Nhà nước với NSNN. Điều đó cho thấy Nhà nước tập trung ngân sách, coi ngân sách là công cụ kinh tế quan trọng để định hướng sản xuất kinh doanh, xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý của nền kinh tế quốc dân, để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiểm soát lạm phát và để điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Trong mọi mô hình kinh tế, mọi chế độ, NSNN đều được sử dụng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội.
Đầu tư XDCB và quản lý ĐT XDCB từ nguồn vốn NSNN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò đầu tư XDCB Khái niệm Đầu tư XDCB là một bộ phận của đầu tư phát triển là việc bỏ ra các nguồn lực trong lĩnh vực XDCB (từ khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất) nhằm tạo ra sản phẩm của ngành XDCB. Như vậy, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, là việc sử dụng vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, là những hoạt động với chức năng tạo ra cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường, đê, cầu, cảng, trường, trạm.) cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa hoặc khôi phục các hạ tầng. Đặc điểm - Đầu tư XDCB đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn.
Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư nên cần đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực. - Đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất dài mới có thể đưa vào sử dụng, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm sản phẩm XDCB mang 14 tính chất đơn chiếc và tổng hợp. Các thành quả đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như Tượng Nữ thần tự do ở Mỹ, Kim tự tháp cổ Ai Cập…. - Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao.
Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư quản lý kém, chất lượng không đạt yêu cầu. Bên cạnh đó nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế… - Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy, cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ. - Hoạt động đầu tư XDCB rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.