Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Luận văn quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - Phạm Thị Chuyên

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý đầu tư công cho giảm nghèo tại huyện Ba Bể, Bắc Kạn. Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn và an sinh xã hội.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Phạm Thị Chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý đầu tư công cho giảm nghèo huyện Ba Bể

Đầu tư công giữ vai trò then chốt trong chiến lược xóa đói giảm nghèo tại các huyện miền núi. Huyện Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn có xuất phát điểm kinh tế thấp. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại đây từng ở mức rất cao. Đa số dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa. Địa hình đồi núi hiểm trở gây cản trở lớn đến giao thương và sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư công trở thành đòn bẩy kinh tế quyết định. Nhà nước cung cấp nguồn lực tài chính để xây dựng đường giao thông, trạm y tế, trường học và kênh mương thủy lợi. Quản lý đầu tư công đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền địa phương. Công tác này bao gồm lập quy hoạch, phê duyệt dự án, phân bổ vốn và kiểm tra nghiệm thu công trình. Quy trình quản lý khoa học giúp hạn chế thất thoát, lãng phí ngân sách. Nguồn vốn đầu tư đúng mục tiêu sẽ mở ra cơ hội sinh kế lâu dài cho người dân bản địa. Việc hoàn thiện hệ sinh thái quản lý tài chính công là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của huyện Ba Bể.

1.1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư công phục vụ giảm nghèo

Đầu tư công cho giảm nghèo là việc chi dùng vốn nhà nước cho các dự án an sinh xã hội và hạ tầng nông thôn. Nguồn vốn này đến từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các chương trình mục tiêu quốc gia. Đặc điểm nổi bật của loại hình này là tính xã hội cao, không đặt nặng lợi nhuận tài chính trực tiếp. Mục tiêu cơ bản là cải thiện điều kiện sống và tạo tư liệu sản xuất cho nhóm đối tượng yếu thế. Tại huyện Ba Bể, các khoản đầu tư chủ yếu tập trung vào hệ thống đường liên thôn, trường học bán trú và trạm y tế xã. Quản lý tốt nguồn vốn này tạo ra đòn bẩy kinh tế vững chắc cho các hộ nghèo vươn lên làm chủ cuộc sống.

1.2. Vai trò then chốt của nguồn vốn đối với huyện Ba Bể

Huyện Ba Bể có địa bàn chia cắt phức tạp và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Nguồn vốn đầu tư công đóng vai trò cứu cánh cho ngân sách địa phương hạn hẹp. Dòng vốn nhà nước giúp khơi thông các điểm nghẽn về hạ tầng kết nối. Khi đường giao thông hoàn thiện, nông sản vùng cao tiếp cận thị trường nhanh hơn. Chi phí vận chuyển vật tư sản xuất giảm rõ rệt. Nông dân có thêm động lực chuyển đổi cây trồng và mở rộng chăn nuôi hàng hóa. Ngoài ra, các công trình thủy lợi đảm bảo nước tưới tiêu cho diện tích lúa nước và hoa màu. Đầu tư công tạo tiền đề quan trọng giúp thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn của huyện.

II. Thực trạng quản lý đầu tư công cho giảm nghèo tại Ba Bể Bắc Kạn

Giai đoạn qua, công tác quản lý đầu tư công phục vụ giảm nghèo tại huyện Ba Bể đạt được nhiều kết quả tích cực song vẫn còn tồn tại hạn chế. Huyện đã triển khai quyết liệt các chương trình như Chương trình 30a, Chương trình 135 và xây dựng nông thôn mới. Cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường liên xã, phòng học và trạm y tế được nâng cấp đồng bộ. Tuy nhiên, hiệu quả phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công vẫn gặp rào cản. Tiến độ thi công nhiều dự án bị kéo dài do vướng mắc giải phóng mặt bằng và thời tiết khắc nghiệt. Trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ cấp xã còn thiếu kinh nghiệm trong khâu giám sát kỹ thuật. Công tác thẩm định dự toán và năng lực nhà thầu thi công ở một số gói thầu chưa thực sự chặt chẽ. Sự tham gia giám sát cộng đồng của người dân địa phương còn mang tính hình thức. Kết quả khảo sát cho thấy người dân mong muốn được tham gia sâu hơn vào quá trình chọn lựa dự án. Những bất cập này đòi hỏi huyện Ba Bể phải tái cơ cấu toàn diện quy trình quản lý dòng vốn nhà nước.

2.1. Hạn chế về năng lực cán bộ và phân bổ ngân sách

Năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở trực tiếp phụ trách các dự án đầu tư công còn nhiều bất cập. Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên thiếu thời gian trau dồi chuyên môn về quản lý dự án. Việc lập hồ sơ, thẩm định kỹ thuật và thanh quyết toán vốn thường xảy ra sai sót. Điều này làm chậm tiến độ giải ngân nguồn ngân sách theo kế hoạch năm. Ngoài ra, việc phân bổ nguồn vốn đầu tư công đôi khi còn dàn trải. Các dự án có quy mô nhỏ lẻ xuất hiện nhiều, thiếu tính tập trung vào các công trình mang tính liên kết vùng. Tình trạng thiếu hụt kinh phí duy tu, bảo dưỡng công trình sau nghiệm thu cũng làm giảm tuổi thọ và hiệu quả sử dụng.

2.2. Khó khăn trong công tác giám sát cộng đồng

Hoạt động giám sát cộng đồng tại các xã vùng cao huyện Ba Bể chưa phát huy hết tiềm năng. Người dân địa phương là đối tượng thụ hưởng trực tiếp nhưng ít khi có tiếng nói quyết định trong khâu lập kế hoạch dự án. Trình độ dân trí không đồng đều khiến người dân gặp khó khăn khi đọc bản vẽ kỹ thuật và hồ sơ dự toán. Ban giám sát đầu tư của cộng đồng ở nhiều thôn bản hoạt động thiếu kinh phí hỗ trợ. Thành viên ban giám sát không được đào tạo kỹ năng kiểm tra chất lượng vật liệu hay tiến độ thi công. Mối quan hệ phối hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu và đại diện người dân còn thiếu tính minh bạch. Hậu quả là nhiều sai phạm nhỏ không được phát hiện kịp thời tại hiện trường.

III. Giải pháp nâng cao quản lý đầu tư công cho giảm nghèo ở Ba Bể

Để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công cho giảm nghèo, Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, huyện cần đổi mới công tác lập kế hoạch đầu tư theo hướng công khai và minh bạch. Việc phân bổ nguồn vốn phải dựa trên nhu cầu thực tế và mức độ cấp bách của từng thôn bản. Các cơ quan chuyên môn cần ứng dụng công nghệ thông tin vào theo dõi tiến độ thi công và giải ngân vốn ngân sách. Điều này giúp giảm thiểu thủ tục hành chính phiền hà và ngăn ngừa tiêu cực. Bên cạnh đó, địa phương cần tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý dự án cho cán bộ cấp xã. Khâu lựa chọn nhà thầu phải diễn ra cạnh tranh và tuân thủ nghiêm ngặt Luật Đấu thầu. Việc gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu với tiến độ giải ngân từng công trình là yêu cầu bắt buộc. Cuối cùng, huyện cần xây dựng cơ chế khen thưởng và xử lý nghiêm minh các vi phạm trong quản lý vốn đầu tư.

3.1. Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý cấp cơ sở

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của các dự án đầu tư công. Huyện Ba Bể cần thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ năng quản lý dự án cho cán bộ cấp huyện và xã. Nội dung đào tạo tập trung vào Luật Đầu tư công, quy trình đấu thầu qua mạng và kỹ năng lập hồ sơ thanh quyết toán. Địa phương nên có chính sách thu hút kỹ sư xây dựng giỏi về công tác tại các vùng đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, việc luân chuyển cán bộ có năng lực từ huyện xuống hỗ trợ xã cần được triển khai bài bản. Đánh giá xếp loại cán bộ hàng năm phải gắn liền với kết quả thực hiện dự án giảm nghèo tại địa bàn.

3.2. Đẩy mạnh công tác phân cấp và giám sát của người dân

Phân cấp quản lý gắn với quyền làm chủ của nhân dân là giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng công trình. Huyện cần mạnh dạn giao quyền tự chủ cho Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư các công trình đơn giản. Trước khi phê duyệt dự án, chính quyền phải tổ chức họp thôn để lấy ý kiến đồng thuận của cộng đồng. Mọi thông tin về tổng mức đầu tư, tiến độ thi công và nhà thầu phải được niêm yết công khai tại nhà văn hóa thôn. Huyện cần cấp kinh phí hoạt động cho Ban giám sát đầu tư của cộng đồng. Sự tham gia tích cực của người dân giúp phát hiện kịp thời các hiện tượng bớt xén vật tư hay thi công kém chất lượng.

IV. Kết luận và định hướng quản lý đầu tư công cho giảm nghèo Ba Bể

Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo là một quá trình liên tục đòi hỏi tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị cao. Tại huyện Ba Bể, mỗi đồng vốn nhà nước bỏ ra đều mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Dòng vốn đầu tư không chỉ hoàn thiện hạ tầng mà còn đánh thức tiềm năng phát triển kinh tế sinh thái và du lịch cộng đồng. Khi các tuyến đường kết nối hồ Ba Bể với các vùng sản xuất nông nghiệp được thông suốt, cơ hội làm giàu của người dân sẽ rộng mở. Việc kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của đồng bào là chìa khóa thoát nghèo bền vững. Các cấp chính quyền địa phương cần duy trì sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong từng giai đoạn quản lý vốn. Thành công tại Ba Bể sẽ tạo tiền đề lý luận và thực tiễn vững chắc cho các huyện nghèo khác học tập. Tương lai phát triển thịnh vượng của Ba Bể phụ thuộc lớn vào chất lượng điều hành dòng vốn đầu tư công hôm nay.

4.1. Đánh giá giá trị thực tiễn đối với huyện Ba Bể

Công tác đổi mới quản lý đầu tư công mang lại nhiều giá trị thiết thực cho sự nghiệp phát triển huyện Ba Bể. Tỷ lệ giải ngân nguồn vốn tăng lên rõ rệt giúp các dự án sớm hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng. Người dân vùng sâu được tiếp cận thuận lợi với các dịch vụ y tế, giáo dục và nước sạch sinh hoạt. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng tạo điều kiện tiêu thụ mạnh mẽ các đặc sản địa phương như miến dong, bí xanh thơm và chè Shan tuyết. Đời sống vật chất lẫn tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Những thành quả này góp phần củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào các chủ trương của Đảng và Nhà nước.

4.2. Khả năng nhân rộng bài học cho các địa phương miền núi

Mô hình quản lý vốn đầu tư công tại huyện Ba Bể cung cấp nhiều bài học quý báu cho các huyện miền núi vùng Đông Bắc. Thứ nhất, địa phương cần ưu tiên các công trình dân sinh phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Thứ hai, sự phân cấp quản lý mạnh mẽ về cho cấp xã giúp phát huy tối đa vai trò tự chủ của địa phương. Thứ ba, việc trao quyền giám sát thực chất cho cộng đồng giúp ngăn chặn thất thoát và bảo đảm độ bền công trình. Các địa phương có điều kiện tự nhiên và kinh tế tương đồng tại Bắc Kạn có thể tham khảo áp dụng. Quy trình quản lý chặt chẽ sẽ giúp tối ưu hóa từng đồng vốn ngân sách trong bối cảnh nguồn lực công còn hạn hẹp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/10/2026
Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện ba bể tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG CHO GIẢM NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư công cho giảm nghèo 1. Đầu tư công Theo Luật Đầu tư công của Việt Nam hiện nay thì khái niệm đầu tư công được hiểu như sau: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13, 2014, tr 3) Với cách hiểu này thì đầu tư công chính là việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh như: Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo. Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ.

Đầu tư công là hạt nhân của tất cả các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế và đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và thu hút đầu tư của các nguồn vốn khác nhau nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo. Thông qua đầu tư công, Chính phủ có thể thực hiện các ưu tiên cho các ngành quan trọng được xem là có quan hệ mật thiết tới giảm nghèo; ưu tiên đầu tư cho các vùng kém phát triển để thúc đẩy vùng phát triển, tiến kịp hoà nhập với các vùng khác trong cả nước. Đầu tư công thúc đẩy cho tăng trưởng và nếu được thực hiện lâu dài 5 sẽ mang lại nhiều lợi ích cho người nghèo. Vì thế, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư sẽ tạo ra các tác động mạnh đến tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo.

Theo Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ thì các nguồn vốn đầu tư công bao gồm: - Vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước, bao gồm: vốn đầu tư của ngân sách trung ương cho Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương. - Vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia là khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp của người dân bằng một chứng chỉ có kỳ hạn để đầu tư cho các mục tiêu phát triển của đất nước. - Vốn đầu tư nguồn trái phiếu Chính phủ là khoản vốn trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành để thực hiện một số chương trình, dự án quan trọng trong phạm vi cả nước. - Vốn đầu tư nguồn trái phiếu chính quyền địa phương là khoản vốn trái phiếu có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành để đầu tư một số dự án quan trọng của địa phương.

- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, gồm: vốn viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia. - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là các khoản vốn do Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay để đầu tư các dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách xã hội. - Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, gồm: + Vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết đến trước thời điểm Luật ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2015 có hiệu lực; + Khoản phí, lệ phí được để lại đầu tư của Bộ, ngành trung ương và địa phương; + Tiền lãi dầu khí của nước chủ nhà từ hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (PSC), lợi nhuận được chia từ liên doanh dầu khí và tiền đọc tài liệu dầu khí; 6 + Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập để lại cho đầu tư; + Vốn đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được thu lại hoặc trích lại để đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước của Bộ, ngành trung ương và địa phương; + Nguồn thu của tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của Bộ, ngành trung ương và địa phương; + Nguồn thu từ chuyển mục đích, chuyển quyền sử dụng đất của Bộ, ngành trung ương và địa phương chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay này, bao gồm: + Khoản huy động vốn trong nước của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay từ nguồn vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn vay trong nước khác để đầu tư kết cấu hạ tầng; + Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Chính phủ cho vay lại.

- Đầu tư từ ngân sách Nhà nước (phân cho các Bộ ngành Trung ương và phân cho các địa phương). - Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và dài hạn) cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách hàng năm nhưng về chủ trương lại thường được quyết định cho thời kỳ dài hơn 1 năm, ví dụ 3-5 năm. - Tín dụng đầu tư của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định. - Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

Vốn đầu tư cho giảm nghèo Theo khái niệm được sử dụng trong công tác thống kê thì “Vốn đầu tư là các khoản chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích bổ sung tài sản cố định, tài sản lưu động của toàn bộ nền kinh tế”. Vốn đầu tư được chia thành các loại sau: - Vốn đầu tư cơ bản là số vốn đầu tư để tạo ra tài sản cố định. Nó bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định.

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới tài sản cố định và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định. - Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động trong kỳ nghiên cứu của toàn xã hội. - Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm tăng năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động còn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí; hoàn thiện môi trường xã hội; cải thiện môi trường sinh thái; hỗ trợ cho các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác.

Như vậy, nội dung của "vốn đầu tư phát triển khác" rất phong phú. Nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư tăng thêm cho: + Chi phí cho việc triển khai thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao sức khoẻ cộng đồng như: chương trình tiêm chủng mở rộng; chương trình nước sạch nông thôn; chương trình phòng chống và thanh toán bệnh phong, bệnh lao; chương trình sử dụng muối iốt,.; + Chi phí cho việc thực hiện chương trình bảo vệ môi trường: chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc; chương trình trồng 5 triệu ha rừng; chương trình bảo vệ rừng đầu nguồn; chương trình bảo vệ động thực vật quý hiếm, Chi phí cho việc thực hiện các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội. + Chi phí cho việc thực hiện các chương trình phổ cập giáo dục; 8 + Chi phí cho việc thực hiện các chương trình nghiên cứu, triển khai, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; + Chi phí cho việc thực hiện các chương trình liên quan đến kế hoạch hoá gia đình; + Chi phí cho việc thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo; chương trình 135,. Như vậy, vốn đầu tư cho giảm nghèo là một phần trong nguồn vốn đầu tư nhằm tăng năng lực phát triển của xã hội, giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong xã hội.

Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo Quản lý đầu tư công (Public Investment Management – PIM) có thể được hiểu là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế. [28,2] Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo: là một phần hay một lĩnh vực trong quản lý đầu tư công. Thực chất nó là việc quản lý đầu tư, thực hiện các chương trình, dự án cho mục tiêu giảm nghèo của một quốc gia, một địa phương hay một vùng miền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phạm Thị Chuyên (2018), Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Phạm, T. C. (2018). Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/quan-ly-dau-tu-cong-cho-giam-ngheo-tren-dia-ban-huyen-ba-be-tinh-bac-kan/9768586476
IEEE
T. C. Phạm, "Quản lý đầu tư công cho giảm nghèo trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2018. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/quan-ly-dau-tu-cong-cho-giam-ngheo-tren-dia-ban-huyen-ba-be-tinh-bac-kan/9768586476

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác