CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHẰM GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề nhằm giảm nghèo đa chiều 1. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc quản lý đào tạo nghề 1. Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt (2007): Đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định.” Đào tạo là khái niệm có nội hàm rộng, đó chính là huấn luyện, bồi dưỡng, rèn luyện cho một người từ chưa hiểu biết thành hiểu biết, từ chưa có năng lực làm việc thành có năng lực, từ người năng lực chưa hoàn chỉnh thành người phát triển đầy đủ năng lực, phẩm chất để làm việc.
Khái niệm đào tạo nghiên cứu trong luận văn này được hiểu theo phạm vi hẹp hơn đó là đào tạo nghề hay còn gọi là dạy nghề và được quy định tại Luật giáo dục và Luật dạy nghề. Theo luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (2019): Đào tạo nghề là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo nghề là một khái niệm mà phạm trù của nó nằm trong khái niệm đào tạo; đào tạo nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, và các trình độ đào tạo nghề khác. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 (2014): Đào tạo nghề - dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn tất khóa học.
Trong quá trình đào tạo cần chú ý đào tạo cả ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng, thái độ: đồng thời phải hướng dẫn cho người học khả năng tự tìm việc, tự tạo việc làm và tự trao đổi chuyên môn để có thể thích ứng với sự tiến bộ nhanh của khoa học công nghệ. Từ các cách tiếp cận trên cho thấy, đào tạo nghề là quá trình cung cấp 6 cho người học những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết của một nghề cụ thể và những kỹ năng hội nhập trong môi trường doanh nghiệp để có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc được giao hoặc tự tạo việc làm trong phạm vi nghề nghiệp đó. Theo Nguyễn Thị Hằng (2013) cho rằng: Quản lý nhà nước về dạy nghề là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực nhà nước đối với toàn bộ hoạt động dạy nghề của một quốc gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động dạy nghề, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu quản lý hoạt động đào tạo nghề như sau: Quản lý về đào tạo nghề là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động dạy nghề, do các cơ quan quản lý dạy nghề của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp dạy nghề, duy trì trật tự, kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu được đào tạo nghề của lao động xã hội và thực hiện mục tiêu phát triển sự nghiệp dạy nghề.
Vai trò quản lý đào tạo nghề Nâng cao chất lượng lao động: Hiện nay khi xã hội ngày càng phát triển thì xã hội cũng đòi hỏi tay nghề người lao động ngày càng phải được nâng lên theo hướng hiện đại hóa. Chính vì vậy, thông qua việc đào tạo người lao động được học hỏi, trao đổi và nâng cao chất lượng tay nghề nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội (Bùi Thanh Hà, 2014). Nâng cao chất lượng đào tạo. Thông qua hoạt động quản lý, các mặt của đào tạo sẽ được kiểm tra xem xét đánh giá: về cơ sở vật chất, chuyên môn giáo viên… sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng.
Với những kiến thức, hoặc cơ sở vật chất không còn phù hợp sẽ cần phải thay đổi. Người dạy học cũng cập nhật thêm nội dung giảng dạy nhằm đáp ứng tốt hơn của thị trường lao động (Nguyễn Thị Hằng, 2013). Đáp ứng số lượng lao động cần thiết cho thị trường lao động. Khi kinh tế 7 phát triển, nó cũng đòi hỏi theo một lực lượng lao động mới đáp ứng tốt cho công việc được yêu cầu.
Qua đào tạo, người lao động được đào tạo chuyên môn đáp ứng một cách cơ bản những yêu cầu từ phía thị trường lao động. Điều này sẽ tránh được tình trạng thiếu hụt lao động hoặc chất lượng lao động không phù hợp cho sự phát triển của xã hội (Phạm Minh Hiền, 2012). Góp phần xóa đói giảm nghèo. Những đối tượng sau khi được đào tạo có thêm cơ hội việc làm.
Đã có nhiều lao động tìm được việc làm mới ngay tại địa phương, cũng có những lao động tìm kiếm cơ hội việc làm ở nước ngoài. Điều này sẽ giúp nâng cao được thu nhập của chính bản thân của người lao động cũng như gia đình của họ, góp phần xóa đói giảm nghèo (Nguyễn Xuân Mai, 2010). Nguyên tắc quản lý đào tạo nghề Việc quản lý đào tạo nghề được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản như sau: Một là, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Quản lý theo ngành là quản lý của một cơ quan hành chính nhà nước đối với toàn ngành trên phạm vi cả nước trên những mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật… nhằm đảm bảo sự thống nhất của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân và trong toàn xã hội để khai thác hợp lý nhất mọi tiềm năng và đạt được năng suất và hiệu quả tối ưu (Nguyễn Thị Hằng, 2013).
Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của Nhà nước và nhu cầu của xã hội (Nguyễn Thị Hằng, 2013). Quản lý theo ngành là liên hiệp hoặc thống nhất các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội cùng một cơ cấu kinh tế, kỹ thuật như sản xuất ra cùng một sản phẩm hoặc hoạt động cùng một mục đích giống nhau (Nguyễn Thị Hằng, 2013). 8 Thứ hai: nguyên tắc tập trung dân chủ: đây là nguyên tắc đòi hỏi trong quá trình triển khai quản lý, chỉ đạo cần tuân thủ những quy định chung của cấp trên về chủ trương, đường lối, phát triển sự nghiệp dạy nghề, đòi hỏi cơ sở phải tuân thủ hành lang pháp lý đã quy định nhưng tuyệt đối không áp đặt, cần tạo điều kiện cho cơ sở phát huy quyền chủ động, sáng tạo của họ (Phan Minh Hiền, 2012). Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà nước về dạy nghề là nhà nước thống nhất, tập trung quản lý về chế độ, chính sách dạy nghề, về mục tiêu, nội dung, quy chế văn bằng… Tuy nhiên, tạo điều kiện cho cơ sở chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các hoạt động đào tạo nghề và quản lý dạy nghề cụ thể, tránh việc ôm đồm hoặc buông lỏng trên cơ sở phân cấp, phân quyền về quản lý dạy nghề rõ ràng bằng một hành lang pháp lý hợp lý, đồng bộ.
Đối với cơ sở, phát huy quyền làm chủ của tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân theo chế độ thủ trưởng đối với quản lý nhà nước. Dân chủ hóa giáo dục là tư tưởng lớn, tuy nhiên việc dựa vào các văn bản pháp luật, pháp quy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng tham gia hoạt động dạy nghề là điều cần nắm chắc khi triển khai nguyên tắc tập trung dân chủ (Phan Minh Hiền, 2012). Với nguyên tắc này sẽ phát huy được quyền chủ động của các cơ sở giáo dục dựa trên hành lang pháp lý được quy định bởi Luật Giáo dục, Luật dạy nghề và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lý dạy nghề, đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân chủ của tập thể theo quy chế dân chủ cơ sở (Phan Minh Hiền, 2012). Khái niệm nghèo đa chiều Phương pháp đo lường nghèo đa chiều AF của Sabina Alkire và James Foster (2011) được nhiều quốc gia nghiên cứu áp dụng cho phù hợp với bối cảnh cụ thể của quốc gia mình.
Phương pháp này là một khung lý thuyết chung về các chiều, các chỉ số về các nhu cầu cơ bản của con người, ngưỡng thiếu hụt, 9 phương pháp tổng hợp, tính toán và phân tích nghèo đa chiều. Để áp dụng phương pháp này, các quốc gia cần phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như các chính sách cụ thể để xây dựng các chiều cũng như chỉ số đo lường sự thiếu hụt của người dân. Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) (2008): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”. Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội, do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản.
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.