Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về quản lí tạo động lực làm việc cho giáo viên Hiện nay, tạo động lực cho người lao động nói chung, cho đội ngũ GV nói riêng đã trở thành một nội dung quan trọng trong công tác quản trị nguồn nhân lực ở bất kì tổ chức, lĩnh vực hay quốc gia nào. Tạo động lực làm việc là rất quan trọng đối với mỗi người (trong đó có GV THPT), nó là động cơ, là sức mạnh thúc đẩy con người làm việc một cách kiên trì, bền bỉ, có hiệu quả cao và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Từ đầu thế kỉ 20 trên thế giới đã có những nghiên cứu về nguồn gốc hình thành động lực làm việc của con người, về quá trình hình thành và các nhân tố tác động đến quá trình hình thành động lực làm việc của con người như: - Lí thuyết về cây gậy và củ cà rốt của tác giả Taylor F.W; - Tháp nhu cầu của tác giả Maslow A.H; - Lí thuyết X và Y của tác giả Mc Gregor; - Lí thuyết động cơ thúc đẩy theo kỳ vọng hay còn gọi là lí thuyết mong đợi của tác giả Vroom… Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tạo động lực nhưng theo hướng vai trò của người quản lí: tác giả Jerris, Robbin và đồng sự, Ramsey, Jensen and Meckling, Holmstrom… tất cả các nghiên cứu này đều cho rằng nhà quản lí có sức ảnh hưởng rất lớn đến động lực làm việc của nhân viên chính vì thế mà đòi hỏi các nhà quản lí cấp phải tạo môi trường khuyến khích nhân viên, giúp họ có tinh thần tốt và luôn tin tưởng và gắn bó với tổ chức. 7 Bước sang thế kỉ XXI, khoa học quản trị nguồn nhân lực đã có những bước phát triển mạnh mẽ, vấn đề quản lí tạo động lực cho đội ngũ GV cũng trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia: Tại Tanzania, Chính phủ đã xây dựng các bể nước mưa để giải quyết tình trạng thiếu nước, xây dựng những tòa nhà nhằm cung cấp nơi ở miễn phí cho GV… nhằm nỗ lực đáp ứng nhu cầu cơ bản cho đội ngũ GV. Theo tác giả Mark A cho biết các nhà trường THCS công lập tại Kibaha, Tanzania đặc biệt chú trọng đến việc ghi nhận thành tích và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp cho GV bởi vậy mà hầu hết các GV ở đây họ đều cảm thấy yêu và tự hào về công việc của mình. Trong cuốn sách: “Drive: The Surprising Truth About What Morivates Us”, xuất bản tháng 04/2011 của tác giả Daniel H.pink đã dựa trên những nghiên cứu về tạo động lực thúc đẩy con người được thực hiện trong bốn thập kỷ, tác giả đưa ra sự khác biệt của lí thuyết và thực tế; đồng thời tác giả chứng minh quan điểm về “Củ cà rốt và cây gậy” không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay.
Trong nghiên cứu của Herzberg (1959), Two Factor Theory: Motivation Factors đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc là các nhân tố thúc đẩy và nhân tố duy trì. Dựa trên lí thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả Nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với các nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả chứng minh rằng các nội dung tạo động lực quan trọng là điều kiện làm việc, sự công nhận, chính sách công ty và các yếu tố tài chính. Dựa trên thuyết kỳ vọng của Victor Vroom, tác giả Chomg-Guang Wu (2007) đã tiến hành kiểm định mô hình và đưa ra kết luận rằng những yếu tố 8 tác động đến động lực của nhân viên là: giúp đỡ đồng nghiệp, đánh giá công bằng, phát triển nghề nghiệp, cam kết của tổ chức, đáp ứng nhu cầu cá nhân.
Theo nghiên cứu của Mertler cho rằng GV hài lòng thường có năng suất làm việc cao hơn và ảnh hưởng đến thành tích của học sinh. Tuy nhiên, việc đo lường các yếu tố quyết định và kết quả của tạo động lực làm việc rất phức tạp vì các quá trình tâm lí này không thể quan sát trực tiếp và có nhiều trở ngại như tổ chức và môi trường xung quanh có thể ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu là xây dựng và tăng cường động lực bên trong để GV giảng dạy hiệu quả, đồng thời, hỗ trợ động lực bên ngoài giúp cải thiện môi trường trường học được tốt hơn. Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến (2009) trong bài viết “Vị thế nhà giáo và vấn đề tạo động lực cho người dạy”, Báo Khoa học Giáo dục số 45.
Tác giả tiếp cận vấn đề tạo động lực cho giáo viên từ hai góc độ: thứ nhất là mối quan hệ giữa động lực với nhu cầu, thứ hai là mối quan hệ giữa động lực với các đặc trưng của nghề dạy học. Nghiên cứu còn khái quát được mối liên hệ giữa ba yếu tố nhu cầu – động lực – vị thế ngành nghề. Đây là cơ sở lí thuyết quan trọng để tiếp cận vấn đề tạo động lực lao động cho giáo viên một cách hoàn thiện và hiệu quả. Tác giả Paul Bennell (2004), Teacher motivation and incentives in Sub-Sahara Africa and Asia, Brighton.
Nội dụng của nghiên cứu là về động lực nhà giáo ở Châu Á và Tiểu Sahara, tác giả cho rằng động lực về tiền lương chiếm vị trí chủ đạo đối với giáo viên ở các nước thu nhập thấp, nơi mà tiền lương cùng các lợi ích vật chất khác không đủ đáp ứng nổi nhu cầu cơ bản của cá nhân và gia đình họ. Nghiên cứu đã đưa ra nhiều bằng chứng và những lập luận khoa học, qua đó làm nổi rõ lên các vấn đề mà các giáo viên ở khu vực Châu Á và Tiểu Sahara đang gặp phải, đây là một trong các lập luận quan trọng để nghiên cứu về động lực lao động của giáo viên ở Việt Nam nói chung. 9 Những nghiên cứu về động lực, tạo động lực làm việc cũng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, đặc biệt là từ sau công cuộc đổi mới toàn diện đất nước năm 1986. Các hoạt động tổ nghiên cứu lí luận trong công tác quản trị nguồn nhân lực ở nước ta đã và đang được chú trọng trong mọi lĩnh vực, kể cả giáo dục và đào tạo.
Khi tiến hành khảo sát với GV tại 18 trường thuộc 6 huyện của 3 tỉnh (Hà Nội, Gia Lai và Long An) tác giả Hoàng Gia Trang và cộng sự đã nghiên cứu và chỉ ra 3 yếu tố làm hạn chế đến động lực làm việc của GV và đưa ra 4 đề xuất để giúp GV tăng cường động lực làm việc. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Cảnh Chí Dũng đã đưa ra những nhận thức về mô hình tạo động lực cho các trường đại học công lập. Trong mô hình tạo động lực tác giả nhấn mạnh tới vai trò của Hiệu trưởng đồng thời cũng thể hiện các yếu tố tác động tới động lực của người lao động và quá trình tạo động lực gồm: Mục tiêu phát triển của nhà trường, nhu cầu của người lao động và các công cụ tạo động lực. Bài viết “Vấn đề tạo động lực cho đại học trong điều kiện hiện nay” của Phạm Hồng Quang cho rằng muốn tạo được môi trường giảng dạy và nghiên cứu khoa học lí tưởng cho đội ngũ thì các nhà quản lí cấp quan tâm đến quá trình lịch sử phát triển, điều kiện hiện tại, chính sách quản lí và các hoạt động cụ thể của mỗi nhà trường.
Để làm sáng tỏ quan điểm này, tác giả đã đề xuất các phương án và đưa ra các biện pháp đồng bộ tạo động lực cho trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên. Trong bài báo tạo động lực làm việc thông qua biện pháp đào tạo, bồi dưỡng viên chức Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An (2018), tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo và Nguyễn Văn Dũng đã đánh giá được thực trạng tạo động lực cho viên chức nhà trường thông qua biện pháp đào tạo, bồi dưỡng. Từ đó cũng đã đề xuất được 2 biện pháp nhằm nâng cao động lực làm việc: Nâng cao động lực làm việc thông qua hoạt động học tập nâng cao trình độ tiến sĩ, 10 thạc sĩ, văn bằng 2; Nâng cao động lực làm việc thông qua hoạt động bồi dưỡng thường xuyên. Tác giả Nguyễn Thùy Dung đã phân tích rõ sự ảnh hưởng của môi trường làm việc và hiệu quả của các chính sách quản lí tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
Thông qua đó đề tài đưa ra giải pháp trong việc tuyển dụng những GV có tố chất và động lực làm việc đồng thời đảm bảo việc bổ nhiệm cán bộ có đầy đủ năng lực và đạo đức quản lí. Tác giả Nguyễn Trọng Hòa cũng đã đề xuất 7 giải pháp đối với cán bộ quản lí các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Thủy để nâng cao chất lượng hoạt động tạo động lực. Tác giả Lăng Song Vân đã đưa ra các nhóm giải pháp tạo động lực: + Giải pháp với hệ thống lương; + Giải pháp với chính sách phúc lợi; + Cải thiện môi trường, điều kiện làm việc; + Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, thi đua khen thưởng; + Mở rộng chính sách đào tạo. Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tổng quan về các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau có thể thấy rằng các nhà khoa học đã quan tâm và dành thời gian để nghiên cứu về hoạt động tạo động lực cho đội ngũ GV.
Bên cạnh đó cũng đã đề xuất được một số giải pháp có tính cấp thiết, khả thi và có những đóng góp nhất định để nâng cao chất lượng các hoạt động tạo động lực cho GV. Các nghiên cứu về quản lí hoạt động tổ chức Công đoàn các trường trung học phổ thông theo hướng tạo động lực cho giáo viên Các quốc gia đều dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên, bởi tác động vào đội ngũ này sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy giáo dục có chất lượng và hiệu quả. Vấn đề tạo động lực làm việc cho đội ngũ này đã 11 được quan tâm nghiên cứu từ lâu. Ở Việt Nam, nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lí hoạt động tổ chức Công đoàn theo hướng tạo động lực cho GV là rất lớn.