CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho giáo viên trung học phổ thông 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đội ngũ giáo viên Ngày nay, khái niệm “đội ngũ” dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi như: đội ngũ công nhân, đội ngũ trí thức, đội ngũ giáo viên… Các tổ hợp từ đó đều xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, hàng ngũ chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu.
Theo từ điển tiếng Việt (NXB VHTT-1999), đội ngũ là tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong tổ chức. Trong cuốn sách “Một số khái niệm về quản lý giáo dục” (1997), tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, rằng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc”; thường dùng rộng rãi để chỉ: đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ nhà giáo, đội ngũ trí thức… tức là đối tượng của quản lý nhân lực (nhân sự)” [2]. Cũng có người quan niệm: “Đó là một tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng”. Như vậy, ở một nghĩa chung nhất chúng ta thấy: Đội ngũ là tập hợp một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một chức năng giống nhau cùng nghề hoặc nhóm nghề nghiệp, có chung mục đích xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần.
Theo tác giả: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lí tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy, thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như về tinh thần”. Từ những phân tích về khái niệm “giáo viên”, “đội ngũ”, Tác giả quan niệm: Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được tổ 5 chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn củamột nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các luật khác được nhà nước quy định. Đội ngũ giáo viên THPT Ðiều lệ trường trung học phổ thông, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, ở chương IV, điều 30 có nêu: “Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Ðoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Ðoàn) đối với trường trung học có cấp THPT, giáo viên làm tổng phụ trách Ðội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THPT)” [3]. Theo cách hiểu trên, giáo viên trường trung học bao gồm cả cán bộ quản lý giáo dục và các giáo viên phụ trách công tác đoàn thể hoặc công tác khác trong mọi hoạt động của nhà trường.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khái niệm giáo viên THPT là đề cập giáo viên trực tiếp giảng dạy, giáo viên làm cán bộ quản lý cấp trung gian ở trường THPT. Như vậy, đội ngũ giáo viên THPT là lực lượng những người trực tiếp làm công tác giảng dạy và giáo dục học sinh ở cấp THPT. Động lực làm việc - Động lực làm việc Trước khi xem xét động lực làm việc là gì trước hết cần phải hiểu thế nào là động lực. Theo Mitchell, ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình (khái niệm đưa ra trong cuốn sách Multlines, năm 1999 trang 418).
Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. 6 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm và các cộng sự: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo Marier và Lauler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Kết quả thực hiện công việc được xem như một hàm số của năng lực và động lực làm việc.
Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện. Động lực làm việc có thể nhanh chóng được cải thiện hơn và cần được thường xuyên duy trì so với năng lực làm việc. Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: "Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu". Biểu hiện của động lực làm việc là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.
Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó" 1. Như vậy nhu cầu chính là cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con người có thể cảm thấy được, nó là sự mong muốn, đòi hỏi, khao khát của con người về một vấn đề gì đó.
“Lợi ích là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân”2. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận được từ tổ chức. Như vậy có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”. 7 Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất.
Theo tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương, Phạm Thị Bích Ngọc “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [30] Tóm lại, động lực làm việc gồm những điểm sau: Một là, động lực làm việc mang tính tự nguyện, tự giác. Nếu khi làm việc, người lao động bị ép buộc hoặc hoạt động một cách bị động chắc chắn năng suất và chất lượng công việc sẽ không cao. Hai là, động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc, một tổ chức, một môi trường cụ thể nào.
Ba là, động lực làm việc không phải là đặc tính cá nhân. Con người khi sinh ra không ai đã có sẵn tính cách này, nó cũng không phải là cái cố hữu mà thường xuyên thay đổi. Tùy vào từng giai đoạn, vào từng hoàn cảnh mà mỗi người có thể có động lực làm việc rất cao nhưng cũng có giai đoạn, hoàn cảnh chưa chắc đã tồn tại động lực làm việc. Bốn là, động lực làm việc có vai trò rất quan trọng trong tăng hiệu suất làm việc của người lao động trong tổ chức.
Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động sẽ dẫn tới năng suất hiệu quả cao hơn. Trong tất cả các nhân tố tạo ra hiệu suất làm việc thì động lực là nhân tố biến động, dễ bằng 0 nhất. Khi động lực làm việc bằng 0 thì một 8 người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thể không thực hiện được mục tiêu. Tạo động lực làm việc cho giáo viên trung học phổ thông 1.
Tạo động lực làm việc Trong bất kỳ một tổ chức nào, tạo động lực cho người lao động luôn là một trong những quan trọng nhất bởi động lực xuất là yếu tố xuất phát từ bên trong nội tại của mỗi cá nhân người lao động. Vì vậy, để xuất hiện động lực làm việc thì phải tìm cách tạo ra được những động lực đó. Xung quanh vấn đề tạo động lực cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn (2003), “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc”.
Đến tác giả Lê Thanh Hà (2009), quan niệm về tạo động lực đã được cụ thể hóa hơn, theo đó “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao”.