phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương 13 tiết. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC CÁC MÔN TÍCH HỢP THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên dạy học tích hợp ở nước ngoài Nghiên cứu đề cập đến vai trò của giáo viên dạy tích hợp trong nhà trường, được Sergiovanni T.J (2008), Zeeck (1999), Kotter (1990) và một số tác giả khác nghiên cứu ở các góc độ khác nhau song đi m chung có th rút ra là: hiệu trưởng phải giải quyết các vấn đề về tầm nhìn, chiến lược, xác định hướng đi cho nhà trường, lãnh đạo xây dựng văn hóa nhà trường, hướng dẫn giúp đỡ giáo viên, lãnh đạo giảng dạy, huy động các nguồn lực đ phát tri n nhà trường.
Nghiên cứu về lập kế hoạch giáo dục, là khâu quan trọng trong chu trình quản lý, nó định hướng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện và dự báo kết quả của các hoạt động. Kế hoạch giáo dục gồm: chiến lược, kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, năm học, kỳ học. Hiện nay lập kế hoạch cấp độ vi mô là vấn đề được quan tâm, bởi đây là kế hoạch được thực hiện tại cơ sở đ tri n khai công việc của nhà trường. Năm 1991, UNESCO xuất bản: “Sổ tay kế hoạch và quản lý giáo dục cấp vi mô – Micro Level Educationad Planning and Managemend Handbook”, trong đó hướng dẫn phương pháp xác lập kế hoạch quản lý giáo dục ở cấp vi mô.
Về cơ cấu, bộ máy tổ chức, nhà nghiên cứu người Mỹ, Chester E. Trong chương 6 cuốn sách Terry M. MOE (chủ biên) “A Primer on America’s Schools – Sơ lược về các trường học Hoa Kỳ”, khi bàn về quyền của hiệu trưởng trong tuy n chọn giáo viên ông cho rằng, thay vì sự điều tiết của các bang thì phải đ cho hiệu trưởng và Ban giám hiệu nhà 9 trường định hình nên các khối thành viên của nhà trường, được tự do tuy n chọn giáo viên trong số lượng lớn ứng cử viên, đồng thời họ được quyền loại bỏ những người không tạo ra kết quả thỏa đáng cho nhà trường. Các nghiên cứu về tuy n chọn, bổ nhiệm, sử dụng giáo viên dạy tích hợp cũng được nhắc đến trong nghiên cứu của Stuart C.Smith and Philip KPiele đề cập đến ki m tra viết và phỏng vấn đ đo khả năng giao tiếp, tìm hi u trình độ, năng lực của nhà quản lý trước khi bổ nhiệm.
Chuyên gia giáo dục Bungari, Liên Xô, Tiệp Khắc cho rằng tuy n chọn người đ đào tạo thành giáo viên dạy tích hợp phải tính tới trình độ học thức, thâm niên công tác và bi u hiện sáng tạo của cá nhân.C chỉ ra lãnh đạo tiềm năng là người hướng ngoại, có kỹ năng giao tiếp, giỏi làm việc với con người, sáng tạo, biết đưa ra mục tiêu, tự tin, tiên phong, linh hoạt nhưng cũng biết nhượng bộ. Cơ chế tuy n chọn hiệu trưởng ở Úc (Bang Victoria), Ca na da, Mỹ (Bang California) khác nhau nhưng đi m chung là: ứng viên phải trải qua ki m tra, phỏng vấn, Nghiên cứu đề cập về xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên dạy tích hợp đã có nhiều công trình công bố kết quả ở các nước trên thế giới. Các công trình thống nhất với nhau ở một số đi m chung là đề ra yêu cầu hiệu trưởng phải đạt được và tập trung vào tăng cường phát tri n các năng lực: lãnh đạo, quản lý, sư phạm, giáo dục, tổ chức, tư vấn, ki m soát, phát tri n trường học và năng lực xã hội [11]. Cùng hướng nghiên cứu nhưng tiếp cận đánh giá nguồn nhân lực, Christian Batal trong “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” đã đưa ra lý thuyết về quản lý phát tri n nguồn nhân lực bao gồm từ ki m kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực; tác giả Brian E.Becker và Markv A.Huselil cũng khai thác tương tư nhưng đ phục vụ quản trị nhân lực trong các doanh nghiệp [18].
Thông qua ki m tra, đánh giá trường học đ đánh giá giáo viên dạy tích hợp đã được đề cập trong tài liệu “Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên thế giới” của Dự án SREM. Cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX, Hàn Quốc tổ chức hai lần đánh giá, tập trung vào 10 công tác quản lý và những đi m yếu kém trong công tác quản lý trường học, từ đó đề ra chính sách, giải pháp toàn diện đ phát tri n một nền giáo dục hiện đại. Trong nỗ lực cải tiến chất lượng giáo dục, ông Tony Blair Thủ tướng Anh đã yêu cầu giám sát chặt chẽ chất lượng giáo dục tại các trường học theo chu kỳ 3 năm/lần, ki m tra điều kiện cho giáo viên. Trên thế giới “tư tưởng dạy học tích hợp bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, theo đó vào tháng 9 - 1968, Hội nghị tích hợp về giảng dạy các khoa học đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari) với sự bảo trợ của UNESCO” [9, tr.
Tác giả Xavier Roegiers với công trình nghiên cứu “Khoa học sư phạm tích hợp hay cần làm như thế nào đ phát tri n năng lực ở các trường học”. Trong công trình nghiên cứu của mình, ông đã nhấn mạnh rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với học sinh, đồng thời với việc phát tri n các mục tiêu đơn lẻ cần tích hợp các quá trình học tập này trong tình huống có ý nghĩa với học sinh. Wraga (2009) nhấn mạnh rằng dạy học tích hợp làm cho việc học có nhiều ý nghĩa hơn khi xét theo góc độ liên kết HS và HS, HS và GV, liên kết các môn học, độ phức hợp và giải quyết vấn đề. Trên bình diện của HS, HS cảm thấy hứng thú hơn vì được th hiện năng lực của chính mình.
Một ưu đi m khác của chương trình dạy học tích hợp là khuyến khích HS có động cơ học tập (motivation). Marshall cho rằng chương trình tích hợp chú trọng nhu cầu tiếp thu kiến thức phù hợp với nhu cầu của HS; HS sẽ được học cái mình cần và yêu thích, người ta gọi đó là “động cơ nội tại” (intrinsic motivation). Chính vì có động cơ học tập (động cơ nội tại) mà việc học trở nên nhẹ nhàng và thích thú hơn. Joyce và Showers (1988) đã đề xuất hoạt động chuyên môn cần tăng cường dạy học theo hướng tích hợp được trình bày, được thiết kế đ phát tri n kĩ thuật và kĩ năng dạy học mới dạy học theo hướng tích hợp như cách đặt câu hỏi, đặt câu hỏi với yêu cầu cao hơn và làm việc nhỏ, cách tích hợp.
Đ mô hình hoạt động hiệu quả, việc tính đến thời gian là điều cần thiết. Sau thời 11 gian đó, giáo viên sẽ dần hòa nhập trở lại lớp học với phương pháp giảng dạy mang tính bền vững. 5 yếu tố của mô hình này là: Mở rộng lý thuyết thông qua các bài giảng, thảo luận và đọc; Tập các kĩ năng thông qua video hay trong cuộc sống Thực hành trong điều kiện giả cách (thử thực hành 20-25 lần trong thời gian 8-10 tuần. Những người cùng thực hiện đưa ra hướng dẫn và phản hồi (khuyến khích ghi lại quá trình thực hành qua băng, đĩa).
Giảng dạy trong suốt quá trình chuy n hóa từ đào tạo sang đứng lớp dạy học thật sự. Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên dạy học tích hợp ở Việt Nam Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, vấn đề quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng là chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý thực tiễn. Vấn đề quản lý giáo dục, xây dựng và quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS đáp ứng yêu cầu dạy học các môn tích hợp theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường. Xuất phát từ quan đi m “Coi con người là động lực trực tiếp của sự phát tri n, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó giáo dục có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát tri n của quốc gia. Đ thực hiện có hiệu quả sự nghiệp giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã có Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư khóa IX, ngày 15/6/2004“Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và giáo viên dạy tích hợp giáo dục”. Nghị quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã nêu rõ: “Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, giáo viên dạy tích hợp về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội 12 trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”. Trong nghiên cứu Nguyễn Kim Hồng, Huỳnh Công Minh Hùng (2013) đã đưa ra dạy học tích hợp trên thế giới “đã có nhiều nước áp dụng dạy học tích hợp vào trường học, trong đó có Australia Chương trình dạy học tích hợp đã được nước này áp dụng vào trường học từ những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
Mục tiêu của chương trình giáo dục tích hợp cho giáo dục phổ thông Australia được xác định rõ như sau: Chương trình giáo dục tích hợp là hệ thống giảng dạy tích hợp đa ngành, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kỹ năng được chú trọng, quá trình dạy học tích hợp này bao gồm việc dạy, học và kiểm tra đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của học sinh phổ thông” [40]. Trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Hồng, Huỳnh Công Minh Hùng (2013) đã chỉ ra: Trong dạy học tích hợp, các nhà giáo dục học phân chia ra tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration).