phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hƣớng tạo động lực làm việc cho giáo viên tại các trƣờng mầm non. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hƣớng tạo động lực làm việc cho giáo viên tại các trƣờng mầm non trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hƣớng tạo động lực làm việc cho giáo viên tại các trƣờng mầm non trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN THEO HƢỚNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Các công trình nghiên cứu về vai trò của quản lý trong tổ chức và hoạt động tổ chuyên môn Mintzberg, H. nhận định rằng vai trò của ngƣời quản lý là yếu tố quyết định để nâng cao chất lƣợng hoạt động chuyên môn trong nhà trƣờng.
Fredrik Winslon Taylor (1856–1915) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chuyên môn hóa và quản lý chặt chẽ để đạt hiệu quả tối ƣu trong công việc. Lewis và Rebecca R. Perry tập trung vào đổi mới sinh hoạt chuyên môn qua nghiên cứu bài học, cho rằng đây là phƣơng pháp hiệu quả để phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên. (1993) đã đề xuất năm năng lực cơ bản cần thiết cho hiệu trƣởng trong quản lý chuyên môn, bao gồm lý thuyết, phƣơng pháp, sƣ phạm, công nghệ đào tạo, xử lý tín hiệu, và đạo đức nghề nghiệp.
Các công trình nghiên cứu về các phương pháp quản lý hiệu quả Phƣơng pháp quản lý theo nghiên cứu bài học đƣợc các nhà nghiên cứu quốc tế nhƣ Catherine C. Bà cho rằng đổi mới sinh hoạt chuyên môn cần dựa trên sự phân tích sâu sắc các tình huống giảng dạy thực tế. Nghiên cứu của Ngô Văn Bình (2016) tại Việt Nam trình bày tám giải pháp tối ƣu hóa hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn ở trƣờng THPT chuyên Bắc Giang. Ông đặc biệt đề cao việc thúc đẩy năng lực giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý.Nguyễn Minh Đăng (2020) đã đề xuất năm biện pháp quản lý tổ chuyên môn dựa trên thực trạng tại thị xã Tam Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc, với trọng tâm là tổ chức bồi dƣỡng và sinh hoạt chuyên môn định kỳ.
Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường mầm non Fredrik Winslon Taylor cho rằng quản lý không chỉ là nghệ thuật mà còn là khoa học trong việc tối ƣu hóa hiệu quả hoạt động. Điều này đặc biệt phù hợp trong 5 bối cảnh các trƣờng mầm non, nơi đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chuyên môn và đội ngũ quản lý. khẳng định hiệu trƣởng cần có năng lực sƣ phạm và công nghệ đào tạo để quản lý tốt hoạt động chuyên môn, đặc biệt là ở bậc học mầm non, nơi yêu cầu cao về sự đổi mới phƣơng pháp giảng dạy và chăm sóc trẻ. Các công trình nghiên cứu về thực trạng và biện pháp quản lý tổ chuyên môn tại các trường mầm non ở Việt Nam Tại Việt Nam, Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà về năng lực chuyên môn giáo viên Yên Bái đã chỉ rõ những hạn chế trong quản lý và bồi dƣỡng.
Bài viết đề nghị giải pháp thiết thực nhằm tối ƣu hoá hoạt động tổ chuyên môn. Nguyễn Thành Chung nghiên cứu tại thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, đã đề xuất sáu biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn dựa trên thực trạng và yêu cầu phát triển năng lực giảng dạy. Một số nghiên cứu gần đây nhấn mạnh việc áp dụng nghiên cứu bài học trong quản lý sinh hoạt chuyên môn tại các trƣờng mầm non, nhƣ công trình của Phùng Xuân Dự. Các công trình nghiên cứu về hướng phát triển quản lý tổ chuyên môn theo hướng tạo động lực làm việc Công trình của Nguyễn Minh Đăng (2020) và Nguyễn Thành Chung đã mở ra hƣớng nghiên cứu mới về việc tạo động lực làm việc cho giáo viên mầm non thông qua các biện pháp quản lý tổ chuyên môn.
Kết quả phỏng vấn lãnh đạo và trƣởng tổ chuyên môn làm sáng tỏ nguyên lý, nội dung, mục tiêu và phƣơng thức hoạt động chuyên môn. Thông tin thu đƣợc từ các cuộc phỏng vấn đã cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng này. Đặc biệt, trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chƣa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn theo hƣớng phát triển năng lực dạy học cho giáo viên tại địa bàn này, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng tạo động lực làm việc cho giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trƣờng mầm non theo hƣớng tạo động lực làm việc cho giáo viên 1. Khái niệm về quản lý 1.1 Khái niệm về quản lý Hoạt động quản lý, một lĩnh vực không thể tách rời tiến trình văn minh nhân loại, đã song hành cùng sự phát triển xã hội, đóng vai trò then chốt trong hầu hết các khía cạnh đời sống và định hình vận mệnh cộng đồng. Mặc dù tồn tại từ thuở sơ khai, song việc công nhận tính khoa học của quản lý chỉ mới diễn ra trong những thập kỷ gần đây, khẳng định vị thế của nó nhƣ một ngành học thực thụ. Tuy nhiên, định nghĩa hiện đại đã đƣợc tinh chỉnh và rõ ràng hơn: Quản lý là quá trình kiến tạo thành công mục tiêu tổ chức thông qua việc tối ƣu hóa các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát.
Từ "Quản lý", xuất phát từ Hán ngữ, phản ánh chân thực bản chất của hoạt động này. Nó bao hàm hai quá trình tƣơng hỗ: "Quản" – bao gồm duy trì, bảo tồn và giữ gìn sự ổn định; và "Lý" – bao gồm cải tiến, sắp xếp và đổi mới hệ thống, thúc đẩy sự phát triển. Sự lệch lạc trọng tâm vào chỉ một trong hai quá trình đều dẫn đến hệ quả tiêu cực: chỉ chú trọng "Quản" dẫn đến trì trệ, chỉ tập trung "Lý" tạo nên sự phát triển thiếu bền vững. Do đó, ngƣời quản lý cần cân bằng hài hòa cả hai, đảm bảo sự vận hành nhịp nhàng, biến "Quản" trong "Lý" và "Lý" trong "Quản", tạo nên trạng thái cân bằng động cho toàn hệ thống.
Mô hình hoạt động quản lý đƣợc minh họa rõ nét trong sơ đồ 1. Công cụ Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Phƣơng pháp Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý Trong đó: Quản lý bao gồm bốn yếu tố cấu thành. Thứ nhất, chủ thể quản lý, tức cá 7 nhân, tập thể hoặc tổ chức thực thi quyền quản lý. Thứ hai, khách thể quản lý, là đối tƣợng chịu sự tác động, có thể là con ngƣời, vật thể hay sự kiện.
Thứ ba, công cụ quản lý, bao gồm các phƣơng tiện tác động nhƣ mệnh lệnh, nghị quyết, chính sách, và luật lệ. Cuối cùng, phƣơng pháp quản lý, quyết định bởi sự áp đặt hoặc thỏa thuận giữa chủ thể và khách thể. Tóm lại, bất kể quy mô, cấu trúc hay mục tiêu, mọi tổ chức đều đòi hỏi sự quản lý hiệu quả để vận hành và đạt thành tựu. Hệ thống các chức năng quản lý Mặc dù có nhiều quan điểm về các chức năng quản lý, hầu hết các tác giả đều đồng thuận về bốn chức năng chính: Kế hoạch hóa: Đây là chức năng cơ bản nhất trong quản lý, bao gồm việc xác định mục tiêu tƣơng lai của tổ chức, lập chƣơng trình hành động, và quyết định các phƣơng tiện, cách thức cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu trong một khoảng thời gian cụ thể.
Nếu không có kế hoạch, tổ chức sẽ không biết liệu mình có đi đúng hƣớng hay không và không thể đo lƣờng tiến độ đạt đƣợc mục tiêu. Tổ chức: Chức năng tổ chức liên quan đến việc chuyển đổi các ý tƣởng từ kế hoạch thành hiện thực. Chỉ đạo: Chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi kế hoạch và tổ chức đã đƣợc thiết lập mà còn ảnh hƣởng liên tục đến các chức năng khác của quản lý. Kiểm tra: Kiểm tra nhằm đảm bảo kế hoạch đƣợc thực hiện hiệu quả, phát hiện sớm các sai lệch, xác định nguyên nhân và đƣa ra biện pháp điều chỉnh để đạt đƣợc mục tiêu.
Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Lãnh đạo/chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình quản lý 8 1. Các nguyên tắc quản lý Các nguyên tắc này không chỉ hƣớng dẫn hoạt động của tổ chức mà còn đảm bảo rằng mọi nguồn lực đƣợc sử dụng một cách tối ƣu. Dƣới đây là các nguyên tắc chủ yếu trong quản lý mà ngƣời quản lý cần chú ý: Nguyên tắc tập trung và dân chủ: Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động của tổ chức phải hƣớng về cơ quan quyền lực cao nhất, nơi chịu trách nhiệm hoạch định chiến lƣợc, xác định mục tiêu, và xây dựng các chính sách để chỉ đạo các bộ phận thực hiện công việc. Việc kết hợp giữa tập trung và dân chủ không chỉ giúp tăng cƣờng hiệu quả quản lý mà còn tận dụng tối đa trí tuệ và sự sáng tạo của các thành viên.
Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này cần sự cân nhắc và linh hoạt; nếu quá tập trung vào quyền lực có thể dẫn đến sự quan liêu và mất kết nối với thực tế, trong khi nếu quá dân chủ có thể làm suy yếu vai trò lãnh đạo và gây ra sự lộn xộn trong tổ chức. Do đó, ngƣời quản lý cần cân bằng giữa tập trung và dân chủ để tối ƣu hóa hiệu quả công việc và duy trì sự lãnh đạo vững chắc. Hiểu rõ và hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể là yếu tố then chốt trong vận hành tổ chức. Mỗi cá nhân đều có kỳ vọng riêng, đòi hỏi sự cân bằng khéo léo từ ngƣời lãnh đạo.
Sự hài hòa này không chỉ thúc đẩy tinh thần cống hiến mà còn gia tăng hiệu suất hoạt động chung. Đáp ứng nhu cầu chính đáng của thành viên là chìa khóa mở ra hiệu quả công việc bền vững. Tuy nhiên, nếu lợi ích cá nhân đƣợc ƣu tiên quá mức và bỏ qua lợi ích chung, điều này có thể dẫn đến sự thiếu tinh thần trách nhiệm và ảnh hƣởng tiêu cực đến mục tiêu chung của tổ chức.