Chương 1, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 quy định: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Ngân hàng Nhà nước, 2010). Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Khái niệm quản lý Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, gồm 05 nhiệm vụ: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát (Quang Minh, 2012).
Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định (Quang Minh, 2012). Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau nhưng cách định nghĩa khái quát và đơn giản về khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động (Nguyễn Thị Thúy An và Hoàng Thị Lan Anh, 2013). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm cho vay Cho vay là quan hệ kinh tế giữa ngân hàng với khách hàng trong đó ngân hàng giao tiền hoặc tài sản cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định, với cam kết khách hàng trả cả vốn và lãi cho ngân hàng vô điều kiện khi đến hạn thanh toán (Ngân hàng Công thương Việt Nam, 2010).
Với khái niệm trên thì tín dụng ngân hàng bao hàm những nội dung cơ bản sau: - Cho vay dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp các khoản vay khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Sự tin tưởng này có được là nhờ uy tín của người đi vay, nhờ vào giá trị của tài sản đảm bảo, sự tin tưởng, hoặc do bảo lãnh của bên thứ ba (Nguyễn Văn Tiến, 2009). - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ ngân hàng (người cho vay) sang cho khách hàng (người đi vay).Ngân hàng là một trung gian tài chính “đi vay để cho vay” nên mọi khoản cho vay của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động.
Để xác định thời hạn cho vay hợp lý ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình quá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn, ngược lại nếu nguồn vốn ngắn hạn và không ổn định thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng trong ngắn hạn nếu ngân hàng mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác thời hạn cho vay phải phù hợp với vịêc luân chuyển vốn của khách hàng thì ngân hàng mới có thể thu nợ đúng hạn (Ngân hàng Công thương Việt Nam, 2010). - Cho vay phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc ban đầu, nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc khách hàng còn phải trả ngân hàng một khoản tiền lãi, đây chính là giá cả của quyền sử dụng vốn vay (Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Kim Anh, 2008). - Cho vay là một hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng không những phụ thuộc vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, chính sách kinh tế vĩ mô… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh tạo ra sẽ dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng, điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng (Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Kim Anh, 2008). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cho vay phải dựa trên cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước tiền vay, hợp đồng đảm bảo tiền vay. trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn (Ngân hàng Công thương Việt Nam, 2010). Phân biệt tín dụng và cho vay: Bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời (có hoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng, mối quan hệ tín dụng này được thể hiện dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Như vậy nội dung của tín dụng là rộng hơn cho vay tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì cho vay (tín dụng bằng tiền) là một hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thương mại.
Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế cho nhau (Bộ Tài chính, 2011). Khái niệm về hoạt động cho vay Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Cho vay phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay.
Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế cho vay, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,… (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Tại điểm 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật Số: 47/2010/QH12) định nghĩa “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Một quan điểm khác lại cho rằng “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả ngốc và lãi” (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại cho vay 2. Phân loại cho vay theo thời hạn cho vay Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2004), cho vay theo thời hạn cho vay được chia ra như sau: - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng. Được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn ngắn hạng tạm thời của các doanh nghiêp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình.
- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình vừa và nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm nó đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng dài hạn của doanh nghiệp như xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng (như đường xá, cảng biển…) cải tiến mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Trong 3 loại cho vay trên thì cho vay ngắn hạn có tỷ trọng cao nhất.
Các khoản vay ngắn hạn được giành cho việc bù đắp thiếu hụt vốn lưu động, tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân. Nếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc các dự án có qui mô nhỏ thì sẽ được cho vay trung hạn. Còn cho vay dài hạn được dùng vào việc xây nhà, mua sắm thiết bị, xây dựng xí nghiệp mới…Nói chung, cho vay dài hạn sẽ chứa đựng nhiều rủi ro bởi càng dài hạn thì những biến động càng có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến việc đầu tư kinh doanh của khách hàng (Phan Thị Thu Hà, 2004). Phân loại cho vay theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Cho vay có đảm bảo: tức là để có được khoản vay đó thì người đi vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Yêu cầu cơ bản của tài sản thế chấp (TSTC), cầm cố là phải bán được. Mục đích chủ yếu của một khoản vay phải được đảm bảo là nhằm giảm bớt rủi ro cho người cho vay (Phan Thị Thu Hà, 2004). - Cho vay không có đảm bảo: là việc cho vay dựa trên uy tín và tình hình tài chính của người cho vay, tình hình trả nợ trước đây. Đối với những khách hàng có tình hình tài chính vững mạnh có uy tín, sản phẩm được thị trường sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận ổn định thì ngân hàng có thể cho khách hàng đó 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vay mà không cần đến TSTC, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba (Phan Thị Thu Hà, 2004).
Phân loại cho vay theo phương thức hoàn trả nợ vay Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2004), cho vay theo phương thức hoàn trả nợ vay được chia ra như sau: - Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn: là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận - Cho vay trả góp: là loại hình cho vay mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.