phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng với nội dung cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thƣờng xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chi thƣờng xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi thƣờng xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN CHO CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Chi thƣờng xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Chi thường xuyên Theo điều 4 của Luật Ngân sách nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015: “Chi thƣờng xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nƣớc nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Đại bộ phận các khoản CTX từ ngân sách nhà nƣớc đều mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm.
Các khoản CTX phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng. Hầu hết các khoản CTX nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác do nhà nƣớc tổ chức. Phạm vi và mức độ CTX ngân sách nhà nƣớc gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nƣớc. Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản CTX đƣợc phân bổ tƣơng đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các năm trong kỳ kế hoạch.
Việc sử dụng kinh phí thƣờng xuyên đƣợc thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng. Hiệu quả của CTX không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà đƣợc thể hiện qua sự ổn định chính trị xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Đơn vị sự nghiệp công lập Trong những năm qua, các cơ quan nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến ĐVSNCL nhƣng lại không đƣa ra khái niệm về các đơn vị này, cho tới khi Luật Viên chức ra đời và có hiệu lực. Tại điều 9 khoản 1 Luật Viên chức quy định “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc”.
Hiện nay, hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu không còn là độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong và ngoài công lập. Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là đƣợc thành lập bởi những cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Phần lớn các ĐVSNCL chỉ thực hiện cung cấp một loại hình dịch vụ công bởi đó là mục đích chính khi thành lập. Một số đơn vị khác cung cấp một số loại hình dịch vụ nhƣng vẫn tập trung vào một lĩnh vực chủ yếu.
Chính vì hoạt động của ĐVSNCL nhằm phục vụ quản lý nhà nƣớc, nên nhà nƣớc phải có trách nhiệm cung cấp toàn bộ hoặc một phần chi phí hoạt động. Dựa trên mức độ tự chủ về kinh phí hoạt động, ĐVSNCL chia thành 03 loại (theo điều 9, Nghị định 43/2006/NĐ-CP): ĐVSNCL đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên ĐVSN tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên ĐVSN do ngân sách nhà nƣớc đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động Với mục đích chuyển giao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn, Luật Viên chức 2010 chia thành 02 loại: ĐVSNCL đƣợc chuyển giao quyền tự chủ hoàn toàn và ĐVSNCL chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn. Trong chế độ bao cấp, các ĐVSNCL đƣợc thành lập đông đảo, hoạt động hầu khắp các lĩnh vực, độc quyền trong cung cấp dịch vụ công. Hiện nay, Nhà nƣớc đang có thay 12 đổi về quan điểm trong việc thành lập và hoạt động của các đơn vị này.
ĐVSNCL chỉ nên đƣợc thành lập ở những ngành nghề, lĩnh vực mà tƣ nhân chƣa có khả năng đáp ứng hoặc cung cấp dịch vụ cho đối tƣợng chính sách ở khu vực vùng sâu, vùng xa. Các dịch vụ mà tƣ nhân đã có điều kiện cung cấp thì khuyến khích và tạo điều kiện cho họ hoạt động. Điều này dẫn đến sự thay đổi trong pháp luật về ĐVSNCL và đội ngũ viên chức. Phần lớn lao động làm việc tại các ĐVSNCL đƣợc gọi là viên chức.
Tuy nhiên các đơn vị này hoạt động trên các lĩnh vực, các địa phƣơng khác nhau nhƣng đội ngũ viên chức đều đƣợc điều chỉnh chung bằng các văn bản quy phạm pháp luật, đều phải đạt đƣợc những tiêu chuẩn nhất định, có quyền lợi, nghĩa vụ giống nhau. Chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập CTX cho các ĐVSNCL đƣợc hiểu là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc. Thực chất CTX cho các ĐVSNCL là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nƣớc từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nƣớc phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội. Qua đó có thể hiểu CTX cho các ĐVSNCL là các khoản chi cho các ĐVSNCL nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu.
Vai trò của Chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập CTX cho các ĐVSNCL có vai trò rất quan trọng trong nội dung CTX NSNN. Nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các ĐVSNCL, để có thể thực hiện sản xuất, cung ứng một phần hàng hóa, dịch vụ công, đáp 13 ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là thƣớc đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL khi đem so sánh giữa số chi với mặt kinh tế, hiệu suất, hiệu quả của các khoản chi này. CTX cho các ĐVSNCL hoạt động giáo dục, đào tạo nhằm duy trì hoạt động cho hệ thống giáo dục từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học và sau đại học; CTX cho các ĐVSN kinh tế của nhà nƣớc nhằm đảm bảo hoạt động cho các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động kinh tế nhƣ đơn vị thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngƣ nghiệp; thủy lợi; khí tƣợng; thủy văn; CTX cho các ĐVSN y tế nhằm đảm bảo hoạt động cung cấp dịch vụ đảm bảo sức khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh cho ngƣời dân; CTX cho các ĐVSN văn hóa, thể dục thể thao nhằm đảm bảo chi cho hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục thể thao nhằm nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức khỏe, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nội dung Chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập Để có thể cung ứng đƣợc các hàng hóa công cộng gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nƣớc phải thông qua một mạng lƣới các ĐVSN của mình hoạt động ở tất cả các lĩnh vực nhƣ giáo dục, kinh tế, văn hóa, y tế…Từ đó làm nảy sinh nhu cầu chi NSNN cho các hoạt động sự nghiệp của Nhà nƣớc.
Tuy nhiên NSNN có hạn trong khi các khoản chi Nhà nƣớc đảm nhiệm lại rất đa dạng, phong phú nên nhà nƣớc phải cân nhắc sử dụng bao nhiêu ngân sách nhƣ thế nào là vấn đề quan trọng. Theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh, CTX cho hoạt động của các ĐVSN gồm: * Chi thanh toán cá nhân Hoạt động của các ĐVSNCL mà chủ thể của hoạt động này là các 14 ĐVSNCL để đảm bảo hoạt động này diễn ra liên tục thì phải chi NSNN cho đối tƣợng này. Chi cho con ngƣời tại các ĐVSNCL thuộc các khoản chi cho con ngƣời thuộc khu vực sự nghiệp. Nội dung của khoản chi này bao gồm tiền lƣơng, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, BHXH, BHYT và các khoản thanh toán cá nhân khác nhân sự và cán bộ công nhân viên chức.
Khoản chi này nhằm bù đắp hao phí lao động, đảm bảo cho đời sống và sinh hoạt của cán bộ nhân viên. Trong công tác quản lý thì cơ sở để tính số chi cho con ngƣời là số cán bộ công nhân viên bình quân và mức chi bình quân cho mỗi cán bộ nhân viên; cơ sở để tính số chi cho một cán bộ công nhân viên là chức danh, nhiệm vụ họ đảm nhận, trình độ, năng lực, thâm niên công tác, điều kiện làm việc, mức lƣơng tối thiểu và chế độ chính sách ƣu tiên của nhà nƣớc đối với từng đối tƣợng cụ thể. Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số CTX cho các ĐVSNCL, đồng thời cũng là khoản chi đƣợc ƣu tiên thực hiện đầu tiên. * Chi hoạt động chuyên môn Thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng là nghiệp vụ chuyên môn của các ĐVSNCL vì vậy để nâng cao chất lƣợng các hoạt động chuyên môn đồng thời gắn kết các hoạt động của các ĐVSN này đảm bảo chất lƣợng các dịch vụ công thì cần thiết phải có khoản chi này.
Chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm chi về công cụ làm việc, thiết bị và tài sản, đào tạo,… Trong khối các ĐVSN rất đa dạng, bao gồm nhiều đối tƣợng khác nhau, các lĩnh vực khác nhau nên các hoạt động bồi dƣỡng để nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên cũng hiều hơn và quy mô lớn hơn so với các loại hình đơn vị khác do đó chi ngân sách cho những hoạt động này cũng nhiều hơn.