CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ QUẢN LÝ CHI BHXH BẮT BUỘC 1. Tổng quan về BHXH và chi BHXH bắt buộc 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của BHXH 1. Khái niệm BHXH.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883 là nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa Liên bang Đức), đánh dấu sự ra đời của BHXH. Tổ chức này đã đưa ra khái niệm: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khó khăn về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, TNLĐ, MSLĐ và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ (ILO, 1919). Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất tại Điều 3 Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, ban hành năm 2014 (Luật số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014) như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội". Nhưng nếu tiếp cận từ góc độ khác, BHXH lại có thể được hiểu như sau: - Từ góc độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết.
6 - Từ góc độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật. - Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội… 1. Đặc điểm BHXH - BHXH là hoạt động chia sẻ rủi ro của cộng đồng theo nguyên tắc "số đông bù số ít" và nguyên tắc "tiết kiệm chi tiêu" - BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập của các thành viên trong xã hội theo chiều dọc và theo chiều ngang. - Mục tiêu cơ bản của BHXH là thực thi chính sách xã hội, đảm bảo an toàn và hiệu quả xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh.
- BHXH là một bộ phận của hệ thống đảm bảo xã hội được thực hiện theo nguyên tắc có đóng góp. Người lao động muốn được hưởng chế độ BHXH cần phải tham gia đóng góp vào quỹ BHXH theo qui định của pháp luật. - BHXH thực hiện phân phối trên cơ sở mức đóng vào quỹ BHXH. Tỷ lệ đóng góp và mức hưởng trợ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập của người lao động (tiền lương) của người được bảo hiểm.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, khoản đóng góp BHXH của người lao động được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) với tiền lương. Phân loại BHXH theo Luật BHXH Có nhiều cách phân loại BHXH tùy theo goc độ nghiên cứu, trong phạm vị luận văn này tác giả xin trình bày cách phân loại theo Luật BHXH năm 2014, theo luật BHXH hiện hành, BHXH được chia làm hai loại sau: - BHXH bắt buộc: là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dngj lao động phải tham gia theo qui định của luật pháp. 7 - BHXH tự nguyện: là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH; 1. Vai trò của BHXH.
Đối với nền kinh tế. Thứ nhất, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt, tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau. Rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên túng quẫn. BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ.
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, khi NLĐ không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường. Thứ ba, khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó của NLĐ trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần phát triển nền kinh tế thị trường.
Thứ tư, quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ. Thứ năm, BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển, vừa tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động. Đối với xã hội. Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ và NLĐ.
Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình, đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người SDLĐ tham gia BHXH là để tăng 8 cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của BHXH.
Thứ hai, BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tạo cho những người bất hạnh có thêm điều kiện, lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người. BHXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một cuộc sống công bằng. Thứ ba, BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.
Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ, đồng thời là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng, không phân biệt các tầng lớp trong xã hội. Đối với người lao động.
Thứ nhất, ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ. Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ. Khi gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế rơi vào tình cảnh khó khăn.
Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống, tạo cho NLĐ luôn yên tâm làm việc. Thứ hai, ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Khi tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Đối với người sử dụng lao động.
Việc tham gia BHXH của NSDLĐ giúp họ trang trải những khoản chi phí không mong muốn cho những điều khoản (trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…) ghi trong hợp đồng lao động mà NSDLĐ phải đảm bảo. Hay nó giúp chủ sử dụng lao động và NLĐ giải quyết mâu thuẫn nội tại đã tồn tại bấy lâu nay. Từ đó nó làm cho NLĐ yên tâm hơn, tin tưởng vào người chủ của mình hơn, tận tâm với công việc của mình hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động tạo thêm lợi nhuận cho NSDLĐ. Quỹ Bảo hiểm xã hội 1.
Khái niệm Quỹ BHXH. Nếu như các chế độ BHXH giữ vai trò chủ đạo, thì Quỹ BHXH giữ vai trò là "xương sống" của cả hệ thống BHXH, bảo đảm nguồn tài chính cho mọi sự hoạt động của hệ thống này. Có thể hiểu rằng: Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHXH cho những đối tượng tham gia BHXH theo qui định của pháp luật. Nguồn hình thành Quỹ BHXH gồm: Người sử dụng lao động đóng góp; người lao động đóng góp; tiền sinh lời từ hoạt động của Quỹ; hỗ trợ của Nhà nước; các nguồn thu hợp pháp khác.
Các quỹ thành phần của quỹ BHXH gồm: Quỹ ốm đau, thai sản; Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Quỹ tử tuất, hưu trí. Đặc điểm Quỹ BHXH - Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Nguyên tắc quản lý quỹ là cân bằng thu - chi.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, NLĐ là đối tượng 10 tham gia và đóng góp BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp BHXH. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau nhưng cũng có người được hưởng ít lần hơn, thậm chí không được hưởng. - Quá trình tích lũy để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc.