Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý thu BHXH đối với DNNQD trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý thu BHXH đối với DNNQD trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm Hiện nay, chưa có một Luật nào tại Việt Nam đưa ra khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Tuy nhiên, căn cứ vào các khái niệm về doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước được Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nước đã quy định, có thể hiểu rõ về doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Theo Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật Doanh nghiệp” Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước số 14/2003/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 “Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó”, “Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống.” Từ các khái niệm trên được Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nước quy định, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể được hiểu là: 5 “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các DNNQD thường có các đặc điểm chung dưới đây: Một là, mục tiêu lớn nhất của tất cả các DNNQD là lợi nhuận. Vì vậy, các doanh nghiệp này rất nhanh nhạy trong tìm hiểu đầu tư và có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất táo bạo và mạo hiểm.
Đôi khi để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể cả trốn thuế, trốn đóng BHXH bắt buộc cho người lao động., gây thiệt hại cho chính người lao động và gây hậu quả cho xã hội. Hai là, đối tượng kinh doanh lớn, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực nhưng về mặt quy mô còn nhiều hạn chế, một số hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp, ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp và luôn nợ đọng BHXH. Đối tượng kinh doanh lớn lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phương làm cho việc quản lý đối tượng thêm phức tạp, từ đó việc luân chuyển NLĐ từ các cơ sở kinh doanh dẫn đến việc chuyển đổi và đóng bảo hiểm cho NLĐ. Có thể thiếu hoặc không thực hiện đóng BHXH gây khó khăn cho quá trình thu và ảnh hưởng đến quỹ BHXH Ba là, DNNQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn nhẹ, năng động và nhạy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế song quy mô nhỏ do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa học kỹ thuật, đồng thời trong các doanh nghiệp số lượng lao động ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước nhưng do quy mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.
Những vấn đề cơ bản về thu BHXH và quản lý thu BHXH 1. Bảo hiểm xã hội a. Khái niệm Bảo hiểm và Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội (ASXH).
Có nhiều khái niệm về BHXH tuy nhiên chưa có khái niệm thống nhất bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý. Theo Luật Bảo hiểm Xã hội của Việt Nam (2014): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.” Quan điểm này đã phản ánh đầy đủ 2 mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thể hiện đúng bản chất của BHXH. Chức năng của BHXH Chức năng là sự khái quát của các nhiệm vụ cơ bản, là dạng hoạt động đặc trưng và khái quát nhất của tổ chức hay cá nhân gắn với chức danh nào đó trong một hệ thống tổ chức hoạt động thuộc phạm vi nhất định trong xã hội. Do vậy, về tổng quát, (Theo Nghị định 89/2020/NĐ-CP, ngày 04/8/2020 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam) BHXH có những chức năng sau: - Bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ.
Bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi NLĐ rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập như ốm đau, tại nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết và hội tụ các điều kiện theo quy định. Sở dĩ như vậy là vì quan hệ giữa BHXH và người tham gia BHXH là quan hệ có đóng có hưởng, và là mối quan hệ giữa hết sức chặt chẽ. Quan hệ này phát sinh trên cơ sở lao động và quan hệ tài chính BHXH. Quan hệ đó diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia bảo hiểm, bên nhận bảo hiểm và bên được bảo hiểm.
Bên tham gia bảo hiểm trước hết là NSDLĐ có trách nhiệm phải đóng phí để bảo 7 hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng, đồng thời NLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng phí để tự bảo hiểm cho mình. Sự đóng góp này là bắt buộc, đều kỳ và theo những mức quy định theo từng thời kỳ cho bên nhận bảo hiểm. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội, phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. BHXH là bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung.
Quỹ BHXH được tồn tích dần bởi sự đóng góp những NSDLĐ, NLĐ, mức sinh lời của quỹ và sự hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Như vậy theo nguyên tắc của BHXH, NSDLĐ và NLĐ phải đóng góp vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho NLĐ mà mình thuê sử dụng, NSDLĐ và NLĐ có đóng góp vào quỹ BHXH mới có quyền hưởng trợ cấp, chế độ BHXH. Nhưng khi còn khoẻ mạnh, có việc làm và có thu nhập ổn định nên không được hưởng trợ cấp bảo hiểm. Số lượng những người không được hưởng trợ cấp như vậy thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số người tham gia đóng góp bảo hiểm.
Chỉ những NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập trong những trường hợp xác định và có đủ các điều kiện cần thiết mới được hưởng trợ cấp, chế độ từ quỹ BHXH. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong số những người tham gia đóng góp nêu trên. Như vậy, về bản chất quỹ BHXH lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người tham gia BHXH, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc và có thu nhập ổn định với những người ốm yếu phải nghỉ việc và bị mất hoặc giảm thu nhập. Điều này cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội.
- Kích thích, khuyến khích NLĐ hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. NLĐ có việc làm khi khỏe mạnh làm việc bình thường sẽ có tiền lương, tiền công, khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặc không may bị chết đã có BHXH đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập quan trọng cho cuộc sống của họ, do đó đời sống của bản thân và gia đình họ luôn luôn có chỗ dựa, luôn luôn 8 được đảm bảo. Chính vì thế, họ sẽ gắn bó với công việc, với nơi làm việc và yên tâm, tích cực lao động sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động cũng như tăng hiệu quả kinh tế. Khi tăng năng suất lao động thì họ có khả năng nhận được tiền công cao hơn, đồng nghĩa với việc tham gia BHXH với mức đóng cao hơn và sẽ được hưởng trợ cấp, chế độ cao hơn khi không còn thu nhập.
Nói cách khác, tiền lương (tiền công) và BHXH là những động lực thúc đẩy hoạt động lao động của NLĐ. - Góp phần tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa NLĐ và NSDLĐ, giữa NLĐ với Nhà nước và xã hội.