Đặt vấn đề Ngành xây dựng luôn là một trong những ngành công nghiệp lớn, giữ vai trò quan trọng trong phát triển xã hội để xây dựng nền kinh tế bền vững. Ngành xây dựng chiếm từ 7% đến 10% GDP (tổng sản phẩm quốc nội) đối với các nước phát triển và từ 3% đến 6% với các nước đang phát triển [1]. Ngành xây dựng góp từ 5% đến 6% GDP Việt Nam trong 10 năm gần đây [2], được thể hiện trong Hình 1. Đặc biệt giai đoạn năm 2020-2021, đại dịch covid ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế cả nước nói chung cũng như ngành xây dựng nói riêng; tuy nhiên, Chính phủ đã đưa ra các chính sách kịp thời nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công nhằm phục hồi và phát triển kinh tế [3].1: Tỷ lệ ngành xây dựng đóng góp vào GDP trong giai đoạn 2011-2020 [2] Mặc dù các chính sách này đẩy mạnh sự phát triển của ngành xây dựng nhưng đồng thời cũng làm ô nhiễm môi trường.
Nghiên cứu cho thấy xây dựng sử dụng 35% năng lượng sản xuất, giải phóng 40% khí cacbonic vào bầu khí quyển [4]. Bên cạnh đó, lượng lớn chất thải rắn xây dựng được thải ra gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Ngoài ra, Othman et Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 2 al. [1] đã chỉ ra ngành xây dựng lãng phí 40% tài nguyên thiên nhiên trên thế giới.
Do đó, chất thải xây dựng (CTXD) không chỉ gây hại cho môi trường, mà còn lãng phí tiền bạc và tài nguyên. Trên thế giới, CTXD chiếm tỉ trọng lớn với 35% trong tổng lượng chất thải rắn được tạo ra mỗi năm [6]. Giai đoạn từ 2011 đến 2015, tổng lượng CTXD thải ra lên đến 22 triệu tấn mỗi năm, trong đó 3 thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng thải ra lượng chất thải được thể hiện ở Hình 1.2: Lượng CTXD ở Hà Nội trong 3 năm [7] Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 3 Hình 1.3: Lượng CTXD ở Hồ Chí Minh trong 5 năm [7] Hình 1.4: Lượng CTXD ở Hải Phòng trong 3 năm [7] Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 4 Ở châu Âu, CTXD được tạo ra khoảng 8,2 triệu tấn mỗi năm [8].5 thể hiện phương án các nước châu Âu xử lý CTXD, bao gồm đổ bỏ, chôn lấp và tái chế. Đổ bỏ tại bãi/ đốt rác Chôn lấp Tái chế Hình 1.5 Phương pháp các nước châu Âu xử lý CTXD năm 2019 [8] Liu et al.
đã thống kê CTXD tại Anh chiếm 32%, ở Hà Lan chiếm 28%, Hoa Kỳ chiếm 30%, Đức chiếm 29%, Nhật Bản chiếm 20% và Canada chiếm 27% tổng lượng chất thải hằng năm [6]. Ở Úc, lượng CTXD tăng 3,5 triệu tấn trong 10 năm (từ 2007 đến 2017) [9]. Ở Malaysia, CTXD chiếm 41% tổng lượng chất thải rắn. Ở Ấn Độ, 10-12 triệu tấn CTXD thải ra mỗi năm [10].
Lượng CTXD của các quốc gia được thể hiện trong Bảng 1. Nhìn chung, môi trường và trái đất đang chịu áp lực rất lớn từ lượng chất thải khổng lồ được tạo ra mỗi năm cùng với lượng lớn tài nguyên bị tiêu thụ. Do đó, cách thức quản lý CTXD hiệu quả và cải tiến quy trình để tối ưu hiệu quả quản lý CTXD đã và đang là mục tiêu chung của nhiều nước trên thế giới. Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 5 Bảng 1.1: Lượng CTXD tại các quốc gia trên thế giới Quốc gia Năm dữ liệu Lượng CTXD (Nghìn tấn) Nguồn Trung Quốc 2019 2.400 [11] Tây Ban Nha 2014 7.000 [13] Nhiều quốc gia đã ban hành chính sách về quản lý và xử lý CTXD với định hướng mục tiêu khác nhau.
Luật Superfund được ban hành để quản lý CTXD từ nguồn ở Mỹ [6]. Hiện nay, nhiều hợp đồng dự án đường cao tốc ở các bang quy định việc sử dụng vật liệu tái chế [12]. Nhật Bản đã có chính sách thúc đẩy tái chế CTXD từ 42% năm 2002 lên 97% năm 2011 [6]. Ở Anh, các dự án phải có kế hoạch quản lý CTXD khi thi công với chi phí tối thiểu 300.
Luật môi trường của Trung Quốc cũng có nhiều quy định quản lý CTXD, trong đó: trách nhiệm của người gây ra thiệt hại cho môi trường phải chịu các chi phí liên quan được quy định rõ ràng [14]. Ai Cập đưa ra những tiêu chí để thực hiện chiến lược “Phát triển bền vững: Tầm nhìn 2030”, trong đó có ngăn chặn chất thải được tạo ra từ nguồn [1]. Năm 2016, Liên minh Châu Âu đã yêu cầu Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 6 các nước thành viên phải đưa ra các biện pháp nhằm giảm 70% tổng lượng CTXD trước năm 2020 [15]. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều quy định, chính sách với mục tiêu giảm 80% lượng CTXD vào năm 2025 [16].
Điều này là do CTXD nặng nề và độc hại so với chất thải từ các ngành công nghiệp khác [1]. CTXD thường được đổ bỏ bất hợp pháp, gây mất mỹ quan đô thị và dẫn đến các vấn đề môi trường nghiêm trọng như ô nhiễm không khí, đất và nước ngầm, người dân xung quanh cũng chịu nhiều tác động và ảnh hưởng đến sức khoẻ [7]. CTXD bị đổ bừa bãi xuống sông, kênh, rạch … gây tắc nghẽn, dẫn đến ngập nước vào mùa mưa [7].7 minh hoạ việc đổ bỏ CTXD bất hợp pháp. Vì thế, vấn đề quản lý CTXD hiệu quả luôn được quan tâm.
Quản lý CTXD hiệu quả mang lại nhiều lợi ích gồm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giảm sử dụng vật liệu thô để sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD), giảm chi phí từ việc giảm lượng VLXD và giảm chi phí từ việc xử lý chất thải, giảm lượng khí thải gây ô nhiễm, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các bên liên quan trong ngành xây dựng, đặc biệt là các nhà thầu phụ, nhà thầu chính, nhà cung cấp.6: CTXD đổ trộm ở Hà Tĩnh [17] Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 7 Hình 1.7: CTXD đổ bừa bãi ra bờ biển ở huyện Nghi Xuân [17] 1.2 Mục tiêu đề tài Đa số các dự án hiện nay chưa chú trọng vào vấn đề quản lý và giảm thiểu CTXD, quy trình quản lý CTXD chưa đạt được hiệu quả nên chưa tối ưu hóa được chi phí dự án, gây ô nhiễm môi trường. Do đó, nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu sau: - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý CTXD tại Việt Nam. - Xác định các mối quan hệ và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến hiệu quả quản lý CTXD nhằm hướng tới phát triển bền vững (PTBV). - Đề xuất quy trình quản lý CTXD hướng tới mục tiêu PTBV công nghiệp xây dựng, giảm được lượng lớn CTXD thải ra môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tiết kiệm chi phí cho dự án.3 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi như sau: - Dữ liệu khảo sát được lấy tại các công ty xây dựng tại Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 8 - Các đối tượng tham gia khảo sát, gồm: những người có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực thiết kế, thi công và quản lý dự án như được thể hiện ở Hình 1. Ban quản lý dự án Nhà cung Chủ đầu cấp tư Đối tượng tham gia khảo sát Nhà thầu Tư vấn chính/nhà thiết kế thầu phụ Tư vấn giám sát Hình 1.8: Các đối tượng tham dự khảo sát 1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài a. Về mặt thực tiễn - Giúp các bên tham gia (chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu chính/nhà thầu phụ và nhà cung cấp) nâng cao hiệu quả quản lý CTXD bằng cách xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý CTXD. - Tối ưu hóa chi phí sử dụng và hiệu quả thực hiện dự án.
- Nâng cao nhận thức của các bên tham gia về quản lý CTXD. Về mặt học thuật - Phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng để tìm ra mức độ tương quan và tầm quan trọng của các nhấn tố đến quản lý CTXD. - Cải thiện quy trình quản lý CTXD hiệu quả hướng tới PTBV xây dựng. Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Thị Thanh Thảo - 1970487 9 CHƯƠNG II.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Các định nghĩa và khái niệm 2.1 Chất thải xây dựng (CTXD) CTXD được định nghĩa trong nhiều văn bản pháp luật và TCVN 6705:2009 [18] (tiêu chuẩn đầu tiên định nghĩa CTXD) “là chất thải được thải ra khi phá dỡ, cải tạo các hạng mục/công trình xây dựng cũ, hoặc từ quá trình xây dựng các hạng mục/công trình mới (nhà, cầu cống, đường giao thông …), như vôi vữa, gạch ngói vỡ, bê tông, ống dẫn nước bằng sành sứ, tấm lợp, thạch cao … và các vật liệu khác”. Trong Nghị định 38/2015/NĐ-CP [19], CTXD là chất thải rắn từ hoạt động xây dựng (kể cả cải tạo, phá dỡ công trình) phải được phân loại và quản lý như sau: a) Đất, bùn thải từ hoạt động đào đất, nạo vét lớp đất mặt, đào cọc móng được sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây hoặc các khu vực đất phù hợp; b) Đất đá, chất thải rắn từ vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vữa, bê tông, vật liệu kết dính quá hạn sử dụng) được tái chế làm vật liệu xây dựng hoặc tái sử dụng làm vật liệu san lấp cho các công trình xây dựng hoặc chôn lấp trong bãi chôn lấp chất thải rắn xây dựng; c) Chất thải rắn có khả năng tái chế như thủy tinh, sắt thép, gỗ, giấy, chất dẻo được tái chế, tái sử dụng; d) Chất thải nguy hại được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật hướng dẫn về quản lý chất thải nguy hại. Thông tư 08/2017/TT-BXD [20] định nghĩa “CTXD là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát, thi công xây dựng công trình (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ)”. Lockrey nhận thấy CTXD thường được tạo ra trong giai đoạn xây dựng, phá dỡ và cải tạo tòa nhà, giải phóng mặt bằng và khai quật đường.
Thành phần CTXD thường gồm bê tông, gạch, đất, cát, thép và polyme [21]. Cơ quan bảo vệ môi trường ở Úc mô tả CTXD là chất thải rắn do các công trình xây dựng gây ra, có chứa chất thải từ các hoạt động xây dựng và phá dỡ, nhựa đường và đào đắp.