CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về xã Vũ Quý Nguồn: Internet Hình 1: Bản đồ xã Vũ Quý 1. Vị trí địa lý • Vũ Quý là xã đồng bằng thuộc hạ lưu sông Hồng nằm về phía Bắc huyện Kiến Xương, phía Nam tỉnh Thái Bình. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 282 ha chiếm 1,42% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, và có diện tích nhỏ nhất trong huyện.
• Nằm trong tọa độ địa lý từ 20o16’ đến 20o30’ vĩ độ bắc và từ 106o 21’ đến 1060 29’ độ kinh đông. • Nằm phía Nam của tỉnh Thái Bình + Tiếp giáp: Phía Đông giáp xã Quang Lịch Phía Tây giáp xã Vũ Trung Phía Nam giáp xã Quang Bình Phía Bắc giáp xã Vũ Ninh 2 1. Điều kiện tự nhiên • Thổ nhưỡng Do đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ điển hình nên địa hình của huyện khá bằng phẳng độ dốc trung bình khoảng 1%/km rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân đặc biệt là cho phát triển nông nghiệp nhất là trồng lúa và cây ăn quả. [4] • Thủy văn Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000 mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10.
Lượng mưa chiếm đến 80% lượng mưa cả năm. Vào mùa này lượng mưa cao điểm có ngày cường độ lên tới 200 - 350 mm/ngày. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 với tổng lượng mưa khoảng 20 % lượng mưa cả năm, các tháng 12 và tháng 1 lượng mưa thường nhỏ hơn lượng bốc hơi. Tháng 2 và tháng 3 thời kỳ này mưa phùn ẩm ướt.
[4] • Khí hậu Khí hậu xã Vũ Quý mang tính chất chung của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng một năm có 4 mùa rõ rệt đây là điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, tuy nhiên khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện tốt cho sâu bệnh phát triển vì thế cần phải có những biện pháp phòng trừ sâu bệnh. • Độ ẩm không khí giao động từ 80 - 90%. • Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.800 giờ/năm, tổng nhiệt lượng cả năm khoảng 1. • Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 240C, nhiệt độ cao nhất lên tới 390C và thấp nhất là 4,10C.
chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh khoảng 15 - 200C, trong một ngày đêm khoảng 8 – 100C. • Gió: gió thịnh hành là gió đông nam mang theo không khí nóng ẩm với tốc độ gió trung bình từ 2 - 5 m/giây. Mùa hè thường hay có gió giông bão kèm theo mưa to có sức tàn phá ghê gớm. Gió bão thường xuất hiện từ tháng 5 - tháng 7 có khi đến tháng 1.
Mỗi năm trung bình có từ 2 - 3 cơn bão đổ bộ vào địa bàn huỵên, có năm có tới 6 cơn bão gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất 3 và đời sống nhân dân. Mùa đông có gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh, có thể trồng các cây trồng ôn đới trong sản xuất nông nghiệp. Nhìn chung khí hậu của xã Vũ Quý thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, song sự phân hoá của thời tiết theo mùa với những hiện tượng của thời tiết như giông bão, vòi rồng, gió mùa đông bắc khô hanh đòi hỏi có các biện pháp phòng chống lụt, hạn hán. Tình hình kinh tế - xã hội Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Vũ Quý Hình 2: Hình ảnh xã Vũ Quý Xã Vũ Quý có số dân là 5191 người, có 1730 hộ.
Dân cư phân chia làm 5 thôn gồm thôn 1 (687 người), thôn 2 (1093 người), thôn 3 (1012 người), thôn 4 (1284 người), thôn 5 (1105 người). Loại hình sản xuất, phát triển kinh tế tại xã chủ yếu là nông nghiệp, diện tích đất phục vụ nông nghiệp là 196,6 ha chiếm 69,7% tổng diện tích đất toàn xã; sau đó là công nghiệp có diện tích 24,5 ha chiếm 8,7%.70% Đất CN Đất NN Đất nhà ở Đất GTVT Đất xây dựng Đất nghĩa trang Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Vũ Quý Hình 3: Biểu đồ diện tích đất được sử dụng tại xã Vũ Quý Theo thống kê của UBND xã, hiện nay xã có 3487 người đang trong độ tuổi lao động. • Nông nghiệp: 1767 lao động chiếm 50,67%. • Công nghiệp, TTCN: 1160 lao động chiếm 33,26 %.
• Ngành nghề khác: 560 lao động chiếm 16,07 %. Khái niệm chất thải rắn nông nghiệp Theo Báo cáo môi trường Quốc gia của Bộ Tài Nguyên và Môi trường năm 2011 định nghĩa “Chất thải rắn nông nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ,.) thu hoạch nông sản (rơm, rạ trấu, cám, lõi ngô, thân ngô,…) bao bì đựng phân bón, thuốc BVTV, các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thủy sản…” Chất thải rắn chăn nuôi bao gồm phân gia súc, gia cầm và các chất thải từ quá trình này. Chất thải chăn nuôi có thành phần phức tạp, giàu hữu cơ và được coi là nguồn ô nhiễm tiềm tàng. [2] Chất thải rắn nông nghiệp gồm các phế thải trong quá trình thu hoạch và chế biến nhiều loại cây trồng khác nhau như: các loại rơm, rạ sau thu hoạch 5 lúa tại các cánh đồng, các loại lá, thân cây, cỏ dại tại các vườn cây, các phần dập úa và không sử dụng ở các ruộng rau khi thu hoạch.
[2] Bao bì hoá chất bảo vệ thực vật là loại bao bì dùng để đựng các sản phẩm như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón,… ở dạng bột, dạng hạt hoặc dạng lỏng. Bao bì giúp bảo vệ sản phẩm bên trong tốt hơn trong các điều kiện môi trường khác nhau. Tình hình phát sinh chất thải nông nghiệp ở Việt Nam 1. Sơ lược về tình hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta • Tình hình trồng trọt Bảng 1: Hiện trạng canh tác một số loại cây trồng trên cả nước [1] Nguồn: Niên giám thống kê 2017 Danh mục Đơn vị Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Lúa cả năm: - Diện tích 1000 ha 7.720 - Năng suất tạ/ha 57,75 57,1 55,2 - Sản lượng 1000 tấn 45.84 Ngô: - Diện tích 1000 ha 1.047,1 - Năng suất tạ/ha 44,8 46,0 47,1 - Sản lượng 1000 tấn 5.130 Đậu tương: - Diện tích 1000 ha 100 98 81,9 - Năng suất tạ/ha 14,6 14,8 12,5 - Sản lượng 1000 tấn 146,0 145,0 102,3 Rau các loại: - Diện tích 1000 ha 890,4 900,0 929,5 - Năng suất tạ/ha 171 177,5 177,4 - Sản lượng 1000 tấn 15.490 6 • Tình hình chăn nuôi Bảng 2: Số lượng chăn nuôi qua các năm [1] Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê 6/2018 Trâu Bò Lợn Gia cầm Năm (Triệu con) (Triệu con) (Triệu con) (Triệu con) 2015 2,52 5,37 27,75 341,9 2016 2,52 5,50 29,08 361,7 2017 2,49 5,65 27,40 385,4 6/2018 2,48 5,58 26,42 378,0 Phân bố trong chăn nuôi có sự phân cấp giữa các loài và vùng miền.
Số liệu thống kê cho thấy, số lượng loài chăn nuôi tập trung vào các loại gia cầm và chăn nuôi lợn. Nhìn chung các loài đều có xu hướng tăng so với các năm trước. Về lãnh thổ: Chăn nuôi gia cầm phân bổ đều trong cả nước. Chăn nuôi lợn tập trung và các vùng đồng bằng, dân cư đông.
Chăn nuôi đại gia súc tập trung tại các vùng trung du như Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Miền núi phía Bắc. Các nguồn phát sinh và xử lý chất thải rắn nông nghiệp ở Việt Nam • Nguồn phát sinh chất thải rắn trồng trọt Chất thải phát sinh trong lĩnh vực trồng trọt bao gồm phụ phẩm nông nghiệp, bao bì hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV), bao bì phân bón và dầu máy trong sử dụng máy móc để sản xuất. Phụ phẩm nông nghiệp: gồm các loại chất hữu cơ không sử dụng sau thu hoạch như rơm, rạ, thân ngô, lá mía. Năm 2017, ước tính lượng phát sinh như sau: + Phụ phẩm từ cây lúa 7 Bảng 3.
Ước tính lượng phụ phẩm trồng lúa ở Việt Nam năm 2017 [1] Nguồn: Số liệu điều tra, 2018-Viện MTNN Rơm rạ Trấu Số lượng Số lượng TT Vùng sinh thái (nghìn Tỷ lệ (%) (nghìn Tỷ lệ (%) tấn) tấn) Đồng bằng sông 1 6,083.66 14,68 Hồng Trung du và miền 2 3,336.28 8,05 núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và 3 duyên hải miền 6,997.58 16,88 Trung 4 Đông Nam Bộ 1,396.34 3,37 Đồng bằng sông 5 25,021.70 57,02 Cửu Long Tổng cộng 42,835.00 + Phụ phẩm từ cây rau Chất thải trồng trọt: gồm các loại như bao bì thuốc BVTV, vỏ chai, túi đựng phân bón, dầu máy.Chất thải trồng trọt còn được kể đến các loại dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón đi vào đất, nước khi sử dụng quá liều lượng, cây trồng không hấp thu hết. Xét về mặt kinh tế thì khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra mua phân bón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên tới khoảng 30 nghìn tỷ đồng tính theo giá phân bón. [1] • Nguồn phát sinh chất thải rắn trong chăn nuôi Ngành Chăn nuôi tại Việt Nam hiện nay có xu hướng chuyển dịch từ quy mô nông hộ sang chăn nuôi tập trung và thâm canh với quy mô lớn. Cùng với xu hướng đó, ô nhiễm môi trường chăn nuôi tại các vùng nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng.
8 Theo thống kê của Bộ NN&PTNT về chăn nuôi, cả nước hiện có khoảng 12 triệu hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung. Trong đó, phổ biến ở nước ta là chăn nuôi lợn (khoảng 4 triệu hộ) và gia cầm (gần 8 triệu hộ), với tổng đàn khoảng 362 triệu con gia cầm, 29 triệu con lợn và 8 triệu con gia súc, mỗi năm khối lượng nguồn thải ra từ chăn nuôi ra môi trường là một con số khổng lồ - khoảng 84,5 triệu tấn/năm, trong đó, chỉ khoảng 20% được sử dụng hiệu quả (làm khí sinh học, ủ phân, cho cá ăn,…), còn lại 80% lượng chất thải chăn nuôi đã bị lãng phí và phần lớn thải ra môi trường gây ô nhiễm.[1] Theo số liệu thống kê từ cục chăn nuôi năm 2018, chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi như sau: Bảng 4. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn từ các hoạt động chăn nuôi [1] Nguồn: Cục Chăn nuôi, 2018 CTR bình Lượng CTR Vật nuôi quân (Triệu tấn/năm) (Kg/ngày/con) 2015 2017 T6/2018 Bò 10 19,59 20,64 55,8 Trâu 15 13,82 13,64 37,2 Lợn 2 25,32 25,01 52,84 Gia cầm 0,2 2,5 2,81 7,56 Dê, cừu 1,5 1,03 1,49 Ngựa 4 0,09 0,13 Hươu, nai 2,5 0,06 0,06 Tổng cộng 62,41 63,78 153,4 9 1. Tình hình phát sinh chất thải rắn nông nghiệp tỉnh Thái Bình 1.