phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng, 9 tiết. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về chất lƣợng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Chƣơng 3: Mục tiêu, quan điểm và giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
9 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm về đặc điểm, vai trò đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Công chức Công chức là khái niệm đƣợc dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhƣng đƣợc hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung ngày 9/12/2008 Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực 1/1/2010 quy định cụ thể hơn về công chức, phân biệt và giải thích rõ cán bộ và công chức.
Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc tổ chức chính trị-xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc đảm bảo từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [42, tr 11]. Khái niệm công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 vẫn có phạm vi, đối tƣợng rộng bao gồm cả công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân. Cách 10 quy định của pháp luật nhƣ vậy vẫn chƣa hợp lý vì hoạt động của công chức luôn gắn với quyền lực Nhà nƣớc và pháp luật. Còn hoạt động của những ngƣời làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội về nguyên tắc chung đều phải chấp hành pháp luật của nhà nƣớc nhƣng hoạt động của họ lại chủ yếu dựa vào điều lệ, thể chế của các tổ chức đó, tuy rằng hoạt động của các tổ chức đó cũng đều phải tuân thủ pháp luật.
Chất lượng và chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn “Chất lƣợng” là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lƣợng. Hiện nay có một số định nghĩa về chất lƣợng đã đƣợc các chuyên gia chất lƣợng đƣa ra nhƣ sau: “Chất lƣợng là sự phù hợp với nhu cầu” (theo Juran - một Giáo sƣ ngƣời Mỹ). “Chất lƣợng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định” Theo Giáo sƣ Crosby.
“Chất lƣợng là sự sự thoả mãn nhu cầu thị trƣờng với chi phí thấp nhất” Theo Giáo sƣ ngƣời Nhật – Ishikawa. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lƣợng khác nhau. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lƣợng đƣợc thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lƣợng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”. Chất lƣợng là khái niệm đặc trƣng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lƣợng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lƣợng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm ngƣời tiêu dùng. Cùng một mục đích sử dụng nhƣ nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lƣợng cao hơn.Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ thƣờng là: tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi, giá cả phù hợp. 11 Chất lƣợng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện đƣợc tổng hợp từ nhiều yếu tố, nói cách khác là chất lƣợng của tập hợp công chức các cơ quan chuyên môn trong một huyện, đó chính là hiệu lực, hiệu quả của quá trình quản lý, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, chất lƣợng, kết quả quá trình lao động, tinh thần, thái độ, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện.
Chất lƣợng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện biểu hiện ở năng lực hoạt động, công tác của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực. Do đó, chất lƣợng của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện quyết định đến chất lƣợng hoạt động của các cơ quan trong bộ máy chính quyền nhà nƣớc cấp huyện. Chất lƣợng của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện phụ thuộc vào chất lƣợng của từng thành viên, cá nhân trong đội ngũ; đƣợc thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, Sức khỏe, thể chất và tinh thần, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với môi trƣờng, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, mối quan hệ phối hợp trong công tác. Chất lƣợng của đội ngũ này còn phụ thuộc vào cơ cấu, số lƣợng các điều kiện phục vụ công tác.
Chất lƣợng đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn là chất lƣợng của tập hợp công chức trong một tổ chức, địa phƣơng mà trƣớc hết cần đƣợc hiểu đó chính là chất lƣợng lao động và tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện của đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn trong thực thi công vụ. Đây là một loại lao động có tính chất đặc thù riêng, xuất phát từ vị trí, vai trò của chính đội ngũ lao động này. Vì vậy, chất lƣợng của đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn là một trạng thái nhất định của đội ngũ công chức công chức các cơ quan 12 chuyên môn, thể hiện mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các yếu tố, các thành viên cấu thành nên bản chất bên trong của đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn. Chất lƣợng của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn phụ thuộc vào chất lƣợng của từng công chức trong đội ngũ đó, mà chất lƣợng này thể hiện ở trình độ chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới.
Chất lƣợng của công chức đƣợc phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý của đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn. Chất lƣợng công chức còn bao hàm tình trạng sức khoẻ của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ. Do vậy, có thể định nghĩa chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn nhƣ sau: Chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn đƣợc phản ánh thông qua các tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức.của ngƣời công chức. Chất lƣợng của công chức các cơ quan chuyên môn còn bao hàm tình trạng sức khoẻ của ngƣời công chức, có đủ điều kiện sức khoẻ cho phép công chức thực thi nhiệm vụ công việc đƣợc giao.
Chất lƣợng của đội ngũ công chức công chức các cơ quan chuyên môn cao cho phép hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của bộ máy công chức các cơ quan chuyên môn, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nƣớc và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý nhà nƣớc. Đặc điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp huyện 1. Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp huyện. Ngoài những đặc điểm chung của đội ngũ công chức Việt Nam, do đặc thù của cấp huyện và lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức các cơ quan 13 chuyên môn cấp huyện còn có một số đặc điểm riêng.
Đội ngũ công chức HCNN cấp huyện là nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị cấp huyện do Huyện ủy lãnh đạo. Hệ thống chính trị ở cấp huyện bao gồm Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và lực lƣợng vũ trang cấp huyện. Đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện là những ngƣời vừa phải cụ thể hóa, vận dụng các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và nhà nƣớc vào thực tiễn nhƣ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; vừa phải trực tiếp tổ chức thực hiện các các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch đó. Họ là những ngƣời chỉ đạo hoặc trực tiếp giải quyết các chế độ, chính sách có liên quan đến quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong huyện; là những ngƣời trực tiếp tiếp xúc với các tổ chức và cá nhân khi thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.
Đội ngũ các cơ quan chuyên môn cấp huyện có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân trong huyện, phần lớn là ngƣời địa phƣơng, đƣợc luân chuyển thƣờng xuyên giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chẳng hạn nhƣ cán bộ, công chức làm việc tại Huyện ủy và các đoàn thể có thể luân chuyển sang làm việc trong cơ quan QLNN cấp huyện và ngƣợc lại. Do vậy đòi hỏi đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện ngoài am hiểu kiến thức về công tác QLNN còn phải am hiểu kiến thức về công tác xây dựng Đảng, đoàn thể.