CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHAT LUQNG DAO TAO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC 1. TONG QUAN CÁC NGHIÊN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI Trong bất kỳ thời đại nào hay ở bất kỳ quốc gia nào, chất lượng giáo. dục luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trên toàn thế g ¡ và của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát trié ất nước. Đối với các trường ĐH cũng như các cơ sở đào tạo hiện nay, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo luôn được xem là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất Chính vì vậy, chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục ĐH nói riêng từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề chất lượng, chất lượng đào tạo đại học.
Ở nước ngoài, về mặt lý luận, đã có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm. chất lượng, chất lượng giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng, hệ thống đảm bảo chất lượng. Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu của người này khác cách hiểu người kia. Đối với chất lượng trong giáo dục đại học, các nhà nghiên cứu phân ra ba trường phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm; lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Trước tiên, trường phái lý thuyết về sự khan hiếm chứng minh chất lượng tuân thủ theo quy luật hình chóp.
Chất lượng chỉ có ở số lượng sản phẩm rất hạn chế và nó phụ thuộc vào: Chỉ phí, nguồn lực; quy mô của trường ĐH; sự tuyển chọn; sự công nhận trong phạm vi toàn quốc. Lý thuyết về sự gia tăng giá trị với Astin (1985) trong tác phẩm "Achieving educational excellence: A critical assessment of priorities and practices in higher education" cho rằng các trường đại học có chất lượng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học. viên từ khi nhập trường đến khi ra trường Đại diện của trường phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Bogue và Saunders (1992) "The evidence for quality" cũng như Green D. trong "What is quality in higher education?" cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai”.
Đồng quan điểm này, Green (1994) trong định nghĩa trường ĐH chất lượng cao là “nơi tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lượng và được thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả”. Sallis (1993) trong téc phim “Total Quality Management in Education” đã phân biệt chất lượng theo nghĩa tuyệt đối và tương đối. Chất lượng hiểu theo nghĩa tuyệt đối là chất lượng cao, chất lượng cao nhất. Quan niệm chất lượng theo nghĩa tương đối là xem xét sản phẩm, dịch vụ theo những thuộc.
tính mà người ta gắn cho nó. Sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng khi chúng đạt những chuẩn mực được qui định từ trước. Các chuẩn mực chất lượng được người sản xuất xác định theo yêu cầu của khách hàng. Sản phẩm, dịch vụ được coi là chất lượng khi chúng làm hài lòng, vượt nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng.
Ở Việt Nam, vấn đề chất lượng và chất lượng giáo dục đại học được sự quan tâm đông đảo các nhà giáo và các nhà khoa học giáo dục. Đến nay đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học. như: Nguyễn Đức Chính (2002) với “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”; Nguyễn Quang Giao (2012) với “Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học ở trường đại học”; Phạm Thành Nghị (2000) với “Quản lý chất lượng đại học”; Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) với 10 “Quản lý giáo dục”,. Các công trình này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục và các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng, trong đó các tác giả đều thống nhất khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu Ở cấp độ vĩ mô, Bộ GD & ĐT đã ban hành một số văn bản liên quan đến chất lượng giáo dục đại học như: Quyết định ban hành quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học (2004), Quyết định ban hành quyết định chu kỳ và qui trình kiểm định chất lượng chương trình giáo dục của các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp (2008), Thông báo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo.
dục đại học (2009). Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý đã được thực hiện công phu. Các công trình nghiên cứu này để cập công tác quản lý và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục đại học nói riêng như: Tác giả Nguyễn Hữu Châu với báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTGD. “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục”; tác giả Bùi Mạnh Nhị và các cộng sự với báo cáo tông kết đề tài “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn từ nay đến nam 2010”;.
Đối với chất lượng đào tạo hình thức VLVH, hiện nay đã có nhiều công, trình nghiên cứu và phổ biến rộng rãi. Một số công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đi sâu vào việc nghiên cứu đào tạo hệ VLVH dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Dinh Phan với bài báo “Một số ý kiến về đào tạo không chính quy tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 3 năm 2004 đã nêu ra một số biện pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đảo tạo hệ không chính quy ở Trường Đại học Kinh tế 1I quốc dân trong những năm tới; tác giá Nguyễn Thị Tuyết với bài báo “Những ằn được quan tâm trong công tác đào tạo tại chức” đăng trong Kỷ yếu khoa học lần thứ nhất Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐH Đà Nẵng đã bàn về những vấn đề cần làm như: Làm thế nào để tạo được sức hút đối với người dạy và người học đến với các lớp tại chức? Làm thế nào để cải thiện được chế độ thù lao cho giảng dạy tại chức ở xa và tại chỗ như đối với lớp tại chức các ngành học khác”; tác giả Nguyễn Nam với bài báo “Chất lượng đào tạo hệ tại chức - Vấn đề cần được nghiêm túc nhìn nhận”, đăng trên tạp chí Giáo dục và thời đại chủ nhật số 43. Trong các công trình khoa học các cấp và luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, các tác giả đã quan tâm đến đổi mới quản lý hình thức VLVH, nâng cao hiệu quả quản lý công tác đào tạo theo hình thức VLVH như: Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cử nhân tiếng Anh hình thức vừa học vừa làm tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng”; tác giả Hồ Thị Kim Loan với đề tài “Đổi mới quản lý hình thức đào tạo VLVH của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng”; Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo ở các trường đại học, song chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ngành quản trị kinh doanh theo hình thức VLVH ở Trung tâm Đại học Mở Hà Nội tại Đà Nẵng. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1.
Chất lượng, chất lượng đào tạo a. Chất lượng Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ thời cổ đại, tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Nguyên nhân bắt nguồn từ nội 12 hàm phức tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa diện, đa chiều của khái niệm này. Chất lượng luôn là đề tài của những cuộc tranh cãi gay gắt trên nhiều lĩnh vực.
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau xung quanh khái niệm này. Ở góc độ quản lý, chất lượng được trình bày theo từng cách tiếp cận khác nhau. Với cách tiếp cận tiên nghiệm, chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất. Theo cách tiếp cận này, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền Sản phẩm đó nỗi tiếng trên thị trường và tôn vinh người sở hữu.
Với cách tiếp cận từ góc độ tiêu chuẩn, chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn thì chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuân được qui định trước đó. Với cách tiếp cận khái niệm, chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng thì chất lượng không có nghĩa gì hết nếu không gắn kết với mục đích của sản phẩm đó. Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích tuyên Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [29] Theo từ điển Oxford Poket Dictionary thì chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”.Crosby, chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu [38] Bogue và Saunders thì cho rằng, chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai [37]. Hay chất lượng sản phẩm là tập hợp tính chất sản phẩm có khả năng.
thoả mãn những mẫu xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm [8]. 13 Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO 9000:2008), chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, “trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc”.