Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ TẠI TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ngành học GDMN đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị trí trong hệ thống giáo dục quốc dân, được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho GDMN. Nghiên cứu về GDMN và QLGDMN, tăng cường nghiệp vụ quản lý và tăng cường năng lực quản lý của các trường mầm non đã được quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở và một số Luận văn Thạc sỹ, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về GDMN và đặc biệt là về đề tài CSND trẻ như: Trước khi một em bé vào trường tiểu học cũng cần cho nó một nền tảng tương tự. Chính gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa cộng đồng là những nhân tố tạo nên nền tảng đó.
Do đó từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc 6 tuổi, trẻ em cần được sự đầu tư hỗ trợ phát triển thể chất, tinh thần và hiểu biết xã hội. Việc giáo dục trẻ em trong những năm học ở nha trường có thành công hay không một phần lớn là tùy thuộc vào những tảng đá làm nền tạo được trong những năm phát triển trẻ thơ sau này”. Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng (CLQGDD) giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 22/02/2012. Bản Chiến lược đã đề ra mục tiêu tổng quát là "Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.” 9 - Nếu như nội dung CSND ở chương trình Chăm sóc giáo dục trước kia chỉ được coi như là một bộ phận, một nội dung để hỗ trợ cho các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non thì trong Chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe đã được quan tâm và coi đó như là một nhiệm vụ chính song song với nhiệm vụ giáo dục trẻ trong các trường mầm non và đây cũng là một trong những nội dung quyết định sự thành công của chương trình.
Ngoài các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể kể đến một số Luận văn Thạc sỹ của những tác giả như: - Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt với đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của QL các trường mầm non Quận 3 - Thành phố HCM” [25]. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Bá Hòa với đề tài “Quy hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2015”[17]. - Luận văn thạc sỹ Phạm Thị Hoa với đề tài “Một số biện pháp can thiệp sớm tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ từ 18 đến 36 tháng ở trường mầm non”[16]. - Luận văn thạc sỹ Phạm Thị Trâm - Những biện pháp phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường nhằm nâng cao chất lượng CSGD trẻ trong trường MN, luận văn thạc sĩ 1998 [34].
Về cơ bản, các công trình trên đã đề cập đến công tác chỉ đạo, biện pháp quản lý các trường mầm non, các biện pháp cũng đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của GDMN tuy nhiên những công trình đi sâu về công tác CSND trẻ, một trong những nội dung quản lý trọng tâm của người QL còn ít được quan tâm nghiên cứu. Việc đi sâu vào các biện pháp quản lý công tác CSND cụ thể cho cán bộ quản lý trong trường MN thì các công trình chưa đề cập đến một cách hệ thống. Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công.
Hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định. Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…Chính vì vậy, người ta quan niệm quản lý là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Có nhiều quan niệm về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”.
TheoHarold Koontz và cộng sự: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường, mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”[3].W Taylor: “Quản lý là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[22]. Những tài liệu mới nhất của Trung tâm quản lý chất lượng quốc tế IQC quan niệm quản lý là: Những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. Muốn định hướng và kiểm soát được quá trình tiến tới mục tiêu thì nhà quản lý phải viết ra những điều sẽ làm; Làm theo những điều đã viết; Viết lại những điều đã làm.
Sau đó đem so sánh và tìm ra những sai lệch trong quá trình tiến tới mục tiêu, điều chỉnh các sai lệch nếu có để đạt được mục tiêu. Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận 11 đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. Chẳng hạn: Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[9]. Từ những quan niệm trên có thể hiểu: Quản lý là cai quản bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và tìm cách tác động vào bộ máy để bộ máy đạt tới mục tiêu.
Từ đó có thể rút ra một số dấu hiệu bản chất của quản lý như sau: + Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động chung của tổ chức, + Quản lý là một hoạt động luôn hướng vào những mục tiêu xác định. + Quản lý là hoạt động nhằm tác động vào con người làm cho con người tích cực lao động. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động hợp lý sẽ đem lại hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn.
Vì vậy, trong công việc quản lý đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh… Đây là hoạt động của người đứng đầu (Thủ trưởng) nhằm phối hợp những nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong bộ máy để đạt được mục tiêu đề ra. Từ những quan niệm về quản lý nêu trên ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên cơ sở biết sử dụng có hiệu quả các tiềm năng. Các cơ hội của bộ máy để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý nhà trường 12 Trường học là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo, quản lý nhà trường là một phần quan trọng trong quản lý giáo dục.
Có nhiều khái niệm về quản lý trường học, ở đây xin nêu hai định nghĩa tiêu biểu: Theo M.Konđacop: "Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục". Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý nhà trường là quản lý hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên"[28]. Như vậy quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành đến việc hoàn thành những mục đích dự kiến. Hay nói một cách khác, quản lý trường học thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lí giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất.
Quản lý trường mầm non có thể hiểu Quản lý trường mầm non là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Quản lý trường mầm non là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng trường mầm non đến cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh trong trường mầm non nhằm đạt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mầm non theo quy định. Giáo dục mầm non Giáo dục mầm non là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân. 13 Quản lý GDMN nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuân lợi cho các cơ sở giáo dục thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục.