Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN Cán bộ, công chức là những bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, là nhân tố đảm bảo cho việc quản lý đất nước theo pháp luật và bằng pháp luật, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) chỉ rõ: "Xây dựng một nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, phẩm chất; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả…" [10, tr. Để đạt được mục tiêu đó phải tăng cường QLNN đối với CBCC hiện nay.
Trước hết cần nghiên cứu, làm rõ một số khái niệm sau đây. Một số khái niệm cơ bản 1. Quan niệm về cán bộ, công chức Trong tiếng Việt: Thuật ngữ cán bộ được sử dụng rất không xác định với nhiều nghĩa khác nhau. Thời kỳ mới lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được dùng để chỉ tất cả những người tham gia cách mạng, lãnh đạo nhân dân giành chính quyền; những người giữ chức vụ, lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đoàn thể v.
Thậm chí còn dùng để chỉ tất cả mọi người làm việc trong khu vực công. Theo "Từ điển Tiếng Việt", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, nêu rõ cán bộ có hai nghĩa: "1- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt người thường không 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có chức vụ" [24, tr. Đối với nước ta thuật ngữ "Công chức", đã được sử dụng từ lâu và có nhiều văn bản đã quy định. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công chức, nhưng trong thời gian chiến tranh giải phóng dân tộc thường gọi và dùng là cán bộ.
Trong những năm của thập niên 90, cán bộ ở hai hệ thống: (Nhà nước) được gọi là công chức và (Đảng, đoàn thể) được gọi là cán bộ. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 169/HĐBT quy định đối tượng công chức; đến ngày 9 tháng 3 năm 1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh CBCC. Theo Điều 1 pháp lệnh CBCC thì: "Công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, được tuyển dụng, bổ nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo ngạch, bậc lương được Pháp luật quy định" [2, tr. Năm 2008, Quốc hội ban hành Luật CBCC trong đó quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [22, tr.
1]; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [22, tr. Như vậy, theo quy định của Luật CBCC thì tiêu chí để xác định cán bộ gắn liền với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; còn tiêu chí để xác định công chức gắn liền với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh. Đồng thời giữa cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: Công dân Việt Nam; trong biên chế, hưởng hương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, Luật CBCC năm 2008, đã giải quyết căn bản thế nào là cán bộ, thế nào là công chức và phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơ chế hình thành.
Tuy nhiên, do đặc điểm của thể chế chính trị ở Việt Nam, mặc dù đã được phân định rõ giữa cán bộ và công chức nhưng điều đó cũng chỉ mang tính tương đối, giữa cán bộ và công chức có nhiều điểm chồng lấn, trùng nhau. Thực tế cho thấy cùng một con người đều làm việc trong cơ quan nhà nước nhưng giai đoạn này là cán bộ "vì được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ"; nhưng giai đoạn khác lại là công chức vì do yêu cầu nhiệm vụ được điều động, bổ nhiệm vào ngạch và chức danh khác (không qua bầu cử). Quan niệm về quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, khi lao động sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất lao động cao hơn. Sự liên kết những cá nhân người lao động riêng lẻ trong cộng đồng, tất yếu cần phải có hoạt động chỉ huy, điều hành, kiểm tra chỉnh lý.
để phối hợp sự nỗ lực của các thành viên nhằm đạt mục tiêu chung, các thao tác đó được gọi là thao tác quản lý (lao động quản lý). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi bàn về quản lý, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý: - Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người. - Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc thông qua con người và làm việc với con người. - Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn nhân lực (hiện hữu và tiềm năng) kể cả nguồn vật lực để đạt đến những kết quả mong muốn.
- Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (con người và tập thể người) nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động có hiệu quả, giải quyết được những nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi, gìn giữ, tổ chức và điều khiển hoạt động theo những yêu cầu, nhiệm vụ nhất định. - Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp qui luật, đạt mục đích đề ra và đúng ý định của người quản lý… Như vậy, quản lý là một quá trình xã hội, là một thuộc tính nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Bất cứ lao động xã hội nào cũng cần có ở một chừng mực quản lý nhất định, để xác lập sự tương tác giữa công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất; qui mô lao động xã hội càng rộng lớn thì đòi hỏi càng cao về chất lượng của quản lý. Cho nên, có thể coi quản lý như là lao động để "điều khiển lao động" là điều kiện quan trọng làm cho xã hội loài người vận hành và phát triển.
Bởi tính đặc thù của loại lao động này mà sự phân công lao động xã hội dẫn tới việc tách quản lý thành một chức năng độc lập. Bản chất quản lý của xã hội là quản lý con người và các mối quan hệ của họ, nó bảo đảm sự phù hợp tối đa giữa nhân tố chủ quan tức hoạt động tự giác của con người với tính tất yếu khách quan, sự vận động hợp qui luật của 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mỗi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, có thể coi quản lý như là công cụ, cơ chế để điều hành hoạt động của con người trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện mục đích đề ra. Hoạt động quản lý bao gồm hai bộ phận quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Chủ thể quản lý là một tổ chức hay một tác nhân có chức năng điều khiển hệ thống quản lý, làm cho nó vận hành tới mục tiêu dự kiến và bộ phận bị quản lý (đối tượng quản lý); đối tượng quản lý gồm những người thừa hành trực tiếp các nhiệm vụ và tuân theo những qui định của việc quản lý. Giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ qua lại thông qua quan hệ quản lý, phương pháp và phương tiện quản lý làm cho toàn bộ hệ thống quản lý vận hành. Các yếu tố chủ thể, đối tượng, mục tiêu, phương pháp, phương tiện là cơ cấu chung của mỗi hệ thống quản lý. Khẳng định vấn đề này, V.
Lênin đã viết: "Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa" [18, tr. Như vậy, quản lý theo nghĩa chung nhất: Là một quá trình bao gồm tổng thể các tác động, điều khiển, phối hợp hoạt động của chủ thể và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Về quản lý nhà nước Khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp tất yếu đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức và phương thức quản lý mới, như vậy Nhà nước ra đời. Một trong những đặc điểm cơ bản của nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị, nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật.
nhà nước là tổ chức duy nhất ban hành pháp luật và áp dụng pháp luật để quản lý xã hội. Có ý kiến cho rằng, QLNN là "sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước" [25, tr.