phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG VÀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Từ khi xuất hiện hoạt động lao động tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn. Do đó cần có người đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…, xuất hiện người quản lý và sự quản lý.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: QL khi là động từ mang ý nghĩa: - “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định - “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “vận động và phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ vận động và phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm QL: - Nói đến QL không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Các- Mác, ông nhìn nhận vấn đề QL dưới ý tưởng phân công và hợp tác trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” - Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã xác định vai trò của người quản lý, đó là người quản lý mà chính trực thì không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn khiến người ta phải làm theo trong việc “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. - Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”.
Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh. Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai khái niệm. Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý. - Theo Haror Koontz, QL là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.
- Theo Mariparker Follit (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”. - Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” thì “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến khách thể QL về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. - Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”. - Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”; “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt dược những mục tiêu cụ thể”. Khi bàn đến hoạt động QL và người QL cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”.
Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm QL, đó là trả lời câu hỏi: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì (Mục tiêu quản lý) và từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức năng: (1) Kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý.
(2) Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý trưởng trong kế họach thành hiện thực. (3) Chỉ đạo: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên. (4) Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình theo hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng QL và là cơ sở cho việc ra quyết định trong QL.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên. Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống. Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có “nhạc trưởng” là QLGD. Về QLGD cũng có khá nhiều quan điểm, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định nghĩa như sau: Trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả M.I Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”.Groupe Lewin trong cuốn “Hỗ trợ từ xa - Giải thích thuật ngữ tâm lý giáo dục” của Dự án Việt Bỉ thì “Quản lý giáo dục là quá trình nghiên cứu khoa học về các sự kiện và phương pháp tham gia và quyết định tổ chức hoạt động giáo dục và khoa học quản lý chương trình giáo dục”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.