Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ thương mại Trung Quốc – Châu Phi Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc – Châu Phi Chương 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ quan hệ thương mại Trung Quốc – Châu Phi và số bài áp duṇ g đố i vớ i Viêṭ Nam trong phát triển quan hê ̣3 môṭ hoc̣3 thương maị vớ i Châu Phi 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƢƠNG MẠI TRUNG QUỐC - CHÂU PHI 1. Thuyết tự do thƣơng mại Ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, thuyết Tự do thương mại phát triển thịnh hành vào thế kỷ XIX trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại Tây Âu và Bắc Mỹ. Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu bành trướng kinh tế ra bên ngoài, tăng cường khai thác thuộc địa và trao đổi với nhau thương mại giữa các nước tư bản với nhau. Vào cuối thế kỷ XVIII, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và kết quả tích luỹ tư bản ở giai đoạn trước qua chính sách Trọng thương, nước Anh đã xây dựng được một nền công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn so với hai đối thủ chính là Pháp và Phổ.
Thị trường Anh và các nước thuộc địa không đủ sức tiêu thụ hàng hoá của Anh đang trên đà cất cánh và cũng không đáp ứng được nhu cầu về nguyên, nhiên liệu và lương thực cần thiết, do đó Anh phải ra sức tìm kiếm thị trường mới. Sự ra đời của thuyết Tự do thương mại đã hỗ trợ cho việc mở rộng thị trường quốc tế của Anh. Bắt đầu từ Anh, chủ nghĩa Tự do thương mại dần dần lan sang các nước Tây Âu như Hà Lan, Pháp, Đức. Tuy nhiên, mức độ áp dụng những quan điểm này ở các nước, ở các thời kỳ lịch sử khác nhau và đưa lại kết quả cũng khác nhau.
Trong đó có học thuyết của Adam Smith với lý thuyết về “Bàn tay vô hình”; học thuyết của Keynes với lý thuyết “Bàn tay hữu hình” và học thuyết của trường phái chính hiện đại “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson. Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith Lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith có ảnh hưởng rất sâu rộng và bền vững đến đời sống lý luận và chính sách kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XVII đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Smith đưa ra lý thuyết này trong tác phẩm lớn nhất của mình “Nguồn 7 gốc của cải của các dân tộc hay gọi là sự giàu có của các dân tộc”, công bố đầu tiên vào năm 1776. Với tư tưởng tự do kinh tế, Adam Smith cho rằng, xã hội là sự liên minh những quan hệ trao đổi.
Chỉ có trao đổi và thông qua việc thực hiện những quan hệ trao đổi thì nhu cầu của con người mới được thoả mãn. “Hãy đưa cho tôi cái mà tôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”. Khi tiến hành trao đổi sản phẩm lao động của nhau cho nhau thì con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân của mình. Mỗi người chỉ biết tư lợi và chạy theo tư lợi.
Nhưng khi chạy theo tư lợi thì con người tham gia vào hoạt động kinh tế còn chịu sự tác động của “bàn tay vô hình”. Với tác động này, con người tham gia vào hoạt động kinh tế vừa chạy theo tư lợi lại vừa đồng thời thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến, đó là đáp ứng lợi ích chung của xã hội. Smith, “Bàn tay vô hình” đó là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan hay là một “trật tự tự nhiên”. Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên này thì cần phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá.
Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch. Trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ giữa người với người là phụ thuộc vào nhau. Trong xã hội với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hoá, người ta luôn luôn có quan hệ kinh tế với nhau.Smith đề cao vai trò của “Bàn tay vô hình” và cho rằng, hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá được phát triển theo sự điều tiết của “bàn tay vô hình”. Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế mà chỉ có thể thực hiện những chức năng kinh tế khi mà chức năng đó vượt quá khả năng của các đơn vị kinh doanh đơn lẻ.
Ví dụ: Xây dựng các công trình lớn, làm đường, thuỷ lợi…Còn trong điều kiện bình thường, nhiệm vụ của Nhà nước là duy trì trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc… để tạo ra một sự ổn định, để các tư nhân hoạt động kinh tế. Lý thuyết “Bàn tay hữu hình” của John Maynard Keynes Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản lâm vào khủng hoàng kinh tế nghiêm trọng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên. Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 hay còn gọi là khủng hoảng thừa. Để giúp cho hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lấy lại trạng thái cân bằng, đi ra khỏi tình trạng khủng hoảng, suy thoái và tiếp tục phát triển.
Học thuyết kinh tế “Chủ nghĩa tư bản được điều tiết” xuất hiện. Người sáng lập ra nó là John Maynard Keynes, nhà kinh tế người Anh, ông sinh năm 1884 và mất năm 1946. Khi nghiên cứu về tự do thương mại, Keynes cho rằng, nếu một nước dựa vào lí luận truyền thống mà tiến hành tự do thương mại, thì có thể giành được lợi ích trong việc thực hiện sản xuất chuyên môn hoá các ngành tương đối ưu thế, nhưng nếu bỏ mất hoặc thu hẹp sản xuất các ngành tương đối ưu thế, thì sẽ dẫn đến vấn đề thất nghiệp ngày càng trầm trọng. Ông còn cho rằng, gia tăng xuất siêu là biện pháp trực tiếp duy nhất mà chính phủ có thể gia tăng đầu tư nước ngoài.
Đồng thời, nếu xuất siêu, kim loại quý sẽ chảy về trong nước, đó là biện pháp gián tiếp duy nhất để chính phủ có thể giảm lãi suất trong nước, tăng thêm đầu cơ đầu tư trong nước. Mở rộng xuất khẩu tức là gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với trong nước, có tác dụng “rót vào” giống như tăng thêm đầu tư và sẽ thúc đẩy tổng thu nhập quốc dân tăng lên gấp bội thông qua hiệu ứng thừa số đầu tư. Việc mở rộng nhập khẩu có nghĩa là gia tăng dùng hàng nhập ngoại, điều đó có tác dụng “chảy ra”, giống như tăng thêm để dành, làm yếu đi tác dụng của thừa số đầu tư, làm giảm thu nhập quốc dân. Dựa vào lí do trên, Keynes ra sức tán thành xuất siêu, phản đối nhập siêu.
Ông chủ trương mở rộng xuất khẩu bằng mọi cách, đồng thời nhờ sự giúp đỡ của bảo vệ thuế quan và khuyến khích “mua hàng của Anh” để hạn chế nhập siêu. Keynes cho rằng, để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải bằng sự can thiệp của Nhà nước, từ đó Keynes đã đưa ra lý thuyết về bàn tay hữu hình. Theo thuyết đó, thông qua những hỗ trợ của Nhà nước như là những biện pháp để duy trì cầu đầu tư, thông 9 qua hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của Nhà nước, hệ thống thu mua của Nhà nước…để tạo ra sự ổn định về môi trường kinh doanh, ổn định thị trường, ổn định về lợi nhuận cho các công ty. Lý thuyết của Keynes đã được nhiều nước áp dụng, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX.
Nhưng đến đầu những năm 70 nền kinh tế phương Tây liên tục xuất hiện tình trạng lạm phát, nguyên nhân chính là do chính phủ các nước phương Tây đã quá chú trọng, đề cao vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson. Samuelson là nhà kinh tế Mỹ, năm 1948, ông đã cho xuất bản bộ giáo trình Kinh tế học. Trong bộ giáo trình này, Samuelson đã đề cập đến lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp”.
Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình” và “thăng bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay hữu hình” thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay” là cơ chế thị trường và Nhà nước. Khi bàn về cơ chế thị trường, Samuelson cho rằng, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm: Sản xuất cái gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trường mang nặng yếu tố tự phát, nhưng không phải là một sự hỗn độn, mà là trật tự kinh tế có tính quy luật. Trật tự này có nhiệm vụ kết nối các kết giao kinh tế của hàng triệu cá nhân với nhau. Để thực hiện được nhiệm vụ này, ông cho đó là sức mạnh của thị trường.
Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và sản lượng hàng hoá. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà các nhà kinh doanh tự định hướng cho mình trong việc giải quyết các vấn đề: Sản xuất cái gì? Như thế nào? Cho ai? Người tiêu dùng cũng thông qua sự vận động của giá cả mà đưa ra những 1 quyết định lựa chọn. Theo quan điểm của Samuelson, nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường sẽ cho nó đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng và phát triển, thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật, đó là khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, phân hoá giàu nghèo, độc quyền trong kinh doanh, sử dụng tài nguyên một cách bừa bãi… Khi nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Samuelson cho rằng, Nhà nước nên tập trung vào 4 chức năng sau: - Thiết lập khuôn khổ pháp luật yêu cầu cả Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng phải tuân theo.
- Sửa chữa những thất bại của thị trường, đó là bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền. Hạn chế và ngăn ngừa những ảnh hưởng bên ngoài dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động kinh tế thị trường. Sản xuất và kinh doanh hàng hoá công cộng .