Khóa luận về quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Microsoft word luan van hoang cam van, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Ngoại thương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2003

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ PHÁP - VIỆT

1.1. Khái quát về nước Pháp

1.1.1. Về vị trí địa lý và dân số

1.1.2. Về chế độ chính trị

1.1.3. Về tiềm lực kinh tế

1.2. Sự cần thiết của việc phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt

1.2.1. Về phía Pháp

1.2.2. Về phía Việt Nam

1.3. Quá trình phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt

1.3.1. Giai đoạn trước năm 1973

1.3.2. Giai đoạn từ năm 1973 tới nay

1.4. Năm lĩnh vực hợp tác cần được chú trọng trong việc phát triển quan hệ hợp tác Pháp - Việt

2. CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP - VIỆT

2.1. Thuận lợi và khó khăn của quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

2.1.1. Khó khăn

2.2. Thực trạng của quan hệ thương mại Pháp - Việt

2.2.1. Kim ngạch buôn bán hai chiều

2.2.2. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Pháp

2.2.3. Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu từ Pháp

2.3. Quan hệ đầu tư trực tiếp Pháp - Việt

2.3.1. Hình thức đầu tư

2.3.2. Lĩnh vực đầu tư

2.3.3. Quy mô đầu tư

2.3.4. Phân bổ các dự án đầu tư theo địa bàn

2.4. Viện trợ phát triển chính thức của Pháp cho Việt Nam

2.4.1. Các hình thức viện trợ phát triển chính thức

2.4.2. Tình hình viện trợ phát triển chính thức của Pháp cho Việt Nam

2.5. Đánh giá chung về quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

2.5.1. Thành tựu đạt được

2.5.1.1. Về thương mại

2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ PHÁP - VIỆT

3.1. Triển vọng quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

3.1.1. Định hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

3.1.2. Dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

3.2. Những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư Pháp - Việt

3.2.1. Những giải pháp mang tính vĩ mô

3.2.1.1. Thúc đẩy quan hệ chính trị
3.2.1.2. Có chính sách hỗ trợ hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp
3.2.1.3. Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI
3.2.1.4. Có chính sách thu hút mạnh mẽ hơn nữa và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA

3.2.2. Những giải pháp mang tính vi mô

3.2.2.1. Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sang thị trường Pháp
3.2.2.2. Nâng cao hiệu quả hàng nhập khẩu từ Pháp
3.2.2.3. Đào tạo bồi dưỡng cán bộ
3.2.2.4. Quan hệ hợp tác chặt chẽ với Phòng thương mại và công nghiệp Pháp tại Việt Nam

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ thương mại và đầu tư Pháp Việt

Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973, hai nước đã không ngừng mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Pháp, với vai trò là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong khu vực Châu Âu, đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế. Ngược lại, Việt Nam cũng là một thị trường tiềm năng cho các công ty Pháp, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ.

1.1. Tình hình hiện tại của quan hệ thương mại Pháp Việt

Hiện nay, kim ngạch thương mại giữa Pháp và Việt Nam đã đạt được những con số ấn tượng. Năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt khoảng 5 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng như dệt may, giày dép và nông sản sang Pháp. Ngược lại, Pháp cung cấp cho Việt Nam nhiều sản phẩm công nghệ cao và hàng hóa tiêu dùng. Sự gia tăng này cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước.

1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Pháp vào Việt Nam

Đầu tư trực tiếp từ Pháp vào Việt Nam đã tăng trưởng đáng kể trong những năm qua. Các công ty Pháp như Total, Renault và L'Oréal đã có mặt tại Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển kinh tế và tạo ra nhiều việc làm cho người dân. Đặc biệt, lĩnh vực năng lượng và công nghệ thông tin đang thu hút nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư Pháp. Điều này không chỉ giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

II. Những thách thức trong quan hệ thương mại và đầu tư Pháp Việt

Mặc dù quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các rào cản về chính sách, quy định và sự khác biệt văn hóa có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường. Ngoài ra, sự cạnh tranh từ các nước khác trong khu vực cũng là một yếu tố cần được xem xét.

2.1. Rào cản pháp lý và chính sách

Một trong những thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Pháp khi đầu tư vào Việt Nam là các rào cản pháp lý. Các quy định về đầu tư nước ngoài, thuế và hải quan có thể gây khó khăn cho việc thực hiện các dự án. Do đó, cần có sự cải cách trong chính sách để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

2.2. Khác biệt văn hóa và thị trường

Sự khác biệt về văn hóa và thói quen tiêu dùng giữa Pháp và Việt Nam cũng là một thách thức không nhỏ. Các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ thị trường Việt Nam, từ đó điều chỉnh chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Việc thiếu thông tin và nghiên cứu thị trường có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong đầu tư.

III. Giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư Pháp Việt

Để thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ hai nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc tăng cường hợp tác giữa các tổ chức thương mại và doanh nghiệp cũng là một yếu tố cần thiết.

3.1. Tăng cường hợp tác chính trị và kinh tế

Việc tăng cường hợp tác chính trị giữa hai nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại và đầu tư. Các cuộc hội thảo, diễn đàn kinh tế và các chuyến thăm cấp cao sẽ giúp hai bên hiểu rõ hơn về nhu cầu và tiềm năng của nhau, từ đó thúc đẩy hợp tác.

3.2. Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thâm nhập thị trường

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thâm nhập thị trường Pháp. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các hội chợ thương mại quốc tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quan hệ Pháp Việt

Nghiên cứu về quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam đã chỉ ra rằng, mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng tiềm năng phát triển là rất lớn. Các doanh nghiệp Pháp đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng thị trường tại Việt Nam, và ngược lại, các sản phẩm Việt Nam cũng đã bắt đầu có mặt tại thị trường Pháp.

4.1. Các dự án đầu tư thành công

Nhiều dự án đầu tư từ Pháp vào Việt Nam đã thành công, tạo ra giá trị gia tăng cho cả hai bên. Ví dụ, dự án đầu tư của Total trong lĩnh vực năng lượng đã giúp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất năng lượng tái tạo. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

4.2. Kết quả từ các chương trình hợp tác

Các chương trình hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa và khoa học cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Việc trao đổi sinh viên và nghiên cứu khoa học đã giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau và tạo ra nhiều cơ hội hợp tác trong tương lai.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quan hệ Pháp Việt

Tương lai của quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Với những chính sách hỗ trợ hợp lý và sự nỗ lực từ cả hai bên, quan hệ này có thể đạt được những thành tựu mới. Việc tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như công nghệ, năng lượng và giáo dục sẽ là những yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy quan hệ này.

5.1. Triển vọng phát triển trong tương lai

Triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa Pháp và Việt Nam là rất khả quan. Với sự gia tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, hai nước có thể khai thác tốt hơn tiềm năng của nhau. Các lĩnh vực như công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo và du lịch sẽ là những lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển.

5.2. Những thách thức cần vượt qua

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị tốt hơn để đối phó với sự cạnh tranh và các rào cản pháp lý. Sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công trong tương lai.

24/07/2025
Microsoft word luan van hoang cam van

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu quan hệ chính thức trao đổi hàng hoá giữa hai nước Việt Nam - Pháp. Nhưng cho đến tận tháng 3/1956, Pháp mới thoả thuận về việc lập cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam tại Paris và tháng 8/1966 quan hệ này được nâng lên cấp Tổng đại diện. Trong thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam, đặc biệt từ khi Pháp chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ đối với Mỹ, chính phủ Pháp đã nhiều lần lên tiếng phản đối chính sách can thiệp của Mỹ ở Đông Dương. Ngày 29/8/1963, Tổng Thống De Gaulle tuyên bố mong muốn: “Một Việt Nam độc lập với bên ngoài, hoà bình thống nhất bên trong, hoà hợp với các nước láng giềng” và cho rằng chính sự can thiệp của Mỹ là nguồn gốc gây ra chiến tranh và đòi Mỹ chấm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dứt mọi hành động chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam.

Sau khi Pháp nâng cấp quan hệ với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, quan hệ giữa Chính quyền Sài Gòn và Pháp xấu đi và thậm chí đã bị gián đoạn cho đến tận năm 1973. Trước việc leo thang chiến tranh của Mỹ, Pháp đồng ý cho Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam lập phòng thông tin tại Paris năm 1968. Năm 1973, Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán tại Paris giữa Việt Nam và Mỹ về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam. Xét về thực chất, trong suốt giai đoạn từ 1955 đến 1973, mối quan hệ thương mại giữa hai nước chỉ dừng lại ở con số rất khiêm tốn.

Tuy trao đổi hàng hoá không bao giờ bị gián đoạn ngay cả trong những năm tháng mà quan hệ chính trị và ngoại giao hai nước căng thẳng, kim ngạch buôn bán rất nhỏ và tăng hết sức chậm chạp. Tổng kim ngạch trao đổi hai chiều hàng năm đạt khoảng từ 1 đến 5 triệu FRF. Giai đoạn từ 1973 tới nay Ngay sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết năm 1973, hai nước Việt Nam và Pháp đã nâng quan hệ ngoại giao lên cấp Đại sứ và năm 1976, sau khi nước ta thống nhất, Pháp đã chính thức công nhận nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Năm 1977, chuyến thăm chính thức Cộng Hoà Pháp của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng mở ra một trang mới trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Pháp.

Hiệp định hợp tác kinh tế và công nghiệp và Hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật đã được ký kết. Nhờ vậy, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, giảng dạy tiếng Pháp bắt đầu được thúc đẩy. Đồng thời, quan hệ kinh tế, thương mại song phương cũng có những chuyển biến. Ngay từ lúc đó, chính phủ Pháp đã dành cho Việt nam một khoản viện trợ ODA LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khá lớn tài trợ cho việc xây dựng một số công trình và cung cấp thiết bị toàn bộ giúp Việt Nam khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh.

Về đầu tư, các xí nghiệp cũ của Pháp ở lại miền Nam sau giải phóng đã thành lập các liên doanh nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam như Vinaspecia và Roussel - Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm 70 đầu thập kỷ 80, những chiến dịch vu cáo xung quanh việc Việt Nam giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng và vấn đề thuyền nhân tỵ nạn đã có ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giữa hai nước. Ngoại trừ quan hệ văn hoá, giáo dục và đào tạo, các quan hệ khác đều bị đóng băng. Hợp tác giữa hai nước được nối lại vào cuối những năm 80 và ngày càng phát triển đa dạng, đặc biệt là từ năm 1991, khi chính sách đổi mới của Việt Nam thu được những thành tựu bước đầu quan trọng và Việt Nam bắt đầu tái hội nhập vào cộng đồng quốc tế.

Tháng 7 năm 1993, Chính phủ Pháp đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 50 triệu USD để trả nợ cho IMF nhằm giải toả mối quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế. Năm 1993, Tổng Thống Mitterrand thăm Việt Nam và sau đó Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thăm Pháp. Qua hai chuyến viếng thăm ở cấp cao, Pháp đã tỏ rõ thái độ ủng hộ Việt Nam hoà nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế. Điều đáng lưu ý là cuối năm 1993, Pháp đã giúp Việt Nam giải quyết vấn đề nợ nhà nước tại Câu lạc bộ Paris bằng cách thuyết phục các chủ nợ thông qua phương án trả nợ có lợi cho ta.

Bản thân Pháp đã xoá nợ cho Việt Nam 1,215 tỷ FRF trong số 2,2 tỷ FRF và giải toả 34 triệu FRF thuộc tài sản của Việt Nam bị phong toả tại Ngân khố Pháp từ năm 1954. Tháng 10/1994 tại Hội nghị đầu tiên các nhà tài trợ quốc tế, Pháp đã vận động các nước cam kết tài trợ cho Việt Nam 2 tỷ USD. Để hỗ trợ cho các xí nghiệp Pháp làm ăn ở Việt Nam, Pháp đã nối lại bảo hiểm tín dụng xuất khẩu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com COFACE cho Việt Nam và đưa Việt Nam từ nhóm 4 (nhóm nhiều rủi ro nhất trong đầu tư) lên nhóm 3. Để tỏ rõ mối quan tâm của mình muốn thúc đẩy quan hệ Pháp – Việt và coi Việt Nam là cầu nối giữa Pháp và các nước khác ở khu vực này, tháng 11/1994, Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp lúc đó, Alain Juppé khi đi thăm Việt Nam đã tuyên bố: “Nước Pháp nằm ở giữa lục địa Châu Âu, một châu lục đang ngày càng trở nên thống nhất và nước Việt Nam nằm ở giữa lục địa Châu Á, một châu Á đã được hoà giải và đang tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.

Hai nước chúng ta có thể cùng nhau làm nên nhiều việc lớn”. Tháng 12 năm 1996, khi đến thăm Singapore, Tổng Thống Pháp Chirac đã phát biểu: “Tôi đặc biệt chào mừng Việt Nam gia nhập ASEAN. Với việc tìm lại vị trí của mình trong tổ chức khu vực này, Việt Nam có thể sử dụng tài năng tuyệt vời của người dân và sự năng động kỳ diệu của dân tộc mình vào sự phát triển đất nước”. Tháng 12 năm 1999 Pháp giảm danh sách các đối tượng được nhận viện trợ từ 100 nước xuống còn 53 nước nhưng vẫn giữ Việt Nam trong danh sách này.

Với Pháp, cho đến nay, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định hợp tác quan trọng như Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (1989). Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1992). Hiệp định về hợp tác y tế (1992). Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1993).

Hiệp định hợp tác về dược (1994). Hiệp định hợp tác về du lịch (1996). Thoả thuận về quan hệ hai nước trong lĩnh vực kinh tế quốc phòng (1997). Đặc biệt là quan hệ giữa hai nước đã tiến những bước dài sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN tháng 7/1995, Việt Nam là thành viên đầy đủ tham gia tích cực vào hội nghị Á - Âu (ASEM).

Đồng thời, Việt Nam đã ký hiệp định khung về hợp tác với EU mà theo đó Việt Nam và EU cùng trao cho nhau quy chế đãi ngộ tối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huệ quốc. Năm 1996 Việt Nam và EU đã ký kết văn bản “Tiến tới hợp tác trong mọi lĩnh vực” giai đoạn 1996 - 2000 với 6 mục tiêu trong đó có 3 mục tiêu về hợp tác kinh tế đó là :  Tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển giao và trao đổi công nghệ trong những ngành kinh tế chủ chốt, tăng cường trao đổi thương mại và đầu tư.  Đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tếvà hành chính đang được tiến hành ở Việt Nam.  Giúp Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Như Tổng Thống Pháp Chirac đã nói trong chuyến viếng thăm nước ta vào tháng 11 năm 1997 : “Từ rất lâu người Việt Nam và người Pháp đã gặp nhau. Ngay từ thế kỷ XVII, các nhà thông thái Pháp đã tìm cách hiểu biết cặn kẽ hơn nền văn minh lâu đời và ngôn ngữ Việt Nam. Kể từ đó, hai dân tộc chúng ta đã dệt nên những sợi dây liên kết bền vững nhất giữa hai dân tộc với nhau. Những liên kết ấy đã tồn tại bất chấp những đối đầu và sự xa cách về địa lý giữa hai nước chúng ta.

Trong tất cả các lĩnh vực, các quan hệ giữa chúng ta đã không ngừng củng cố và mở rộng. Đối thoại giữa hai nước phát triển, gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam và Pháp được tăng cường. Chúng ta hãy cùng nhau đi xa hơn nữa. hãy tăng cường sự hợp tác về ngôn ngữ, khoa học và y tế.

Hãy nhân rộng các chương trình về hỗ trợ sư phạm và đào tạo đại học. Hãy mở thêm các trường trung học và các lớp song ngữ. Chúng ta hãy cùng nhau phát triển các cơ sở giáo dục mới, bao trùm tất cả các khu vực của đời sống kinh tế, hành chính và công nghệ. Các doanh nghiệp Pháp, lớn cũng như nhỏ, có kỹ năng và kinh nghiệm về tăng trưởng và luôn sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam những kỹ năng và kinh nghiệm đó, tất nhiên là sẵn sàng hợp tác với các bạn.

Tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo kinh tế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Pháp hãy tiếp tục những cố gắng của họ trên đất nước Việt Nam, hãy tới Việt Nam đông đảo hơn và nắm lấy những thời cơ mà Việt Nam đã trao cho.” Mặc dù có những thăng trầm của lịch sử, sự có mặt của Pháp ở Việt Nam vẫn còn để lại nhiều dấu ấn trong các lĩnh vực như giáo dục, hành chính và thiết kế hạ tầng cơ sở mà ba mươi năm chiến tranh không làm mất đi hoàn toàn. Người Việt Nam luôn có tín nhiệm với những thành tựu kỹ thuật của Pháp và ngược lại, người Pháp tìm thấy ở người Việt Nam những đức tính quý báu: cần kiệm, thông minh, dũng cảm. Mối quan hệ lâu đời giữa hai nước, mặc dù trải qua chiến tranh đã tạo nên những giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật. Nhân dân hai nước có những hiểu biết sâu sắc về văn hoá, ngôn ngữ, thói quen và phong tục tập quán của nhau.

Phát triển các mối quan hệ song phương về mọi mặt giữa hai nước nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng mang lại những lợi ích lớn lao cho cả hai phía. Trao đổi giữa Pháp và Việt Nam đã được nhân lên năm lần trong vòng mười năm, điều đó chứng tỏ sức mạnh của mối liên hệ thương mại giữa chúng ta với đất nước này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ