lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thƣơng mại giữa Mỹ- Ấn Độ 1.1 Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ 1.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ - Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại Mỹ- Ấn Độ từ năm 1991 đến nay 2.1 Vài nét về quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ trước năm 1991 2.2 Quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ giai đoạn 1991-1999 2.3 Quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ giai đoạn 2000-nay 2.4 So sánh với quan hệ thương mại của một số nước 1 2.5 Đánh giá chung - Chƣơng 3: Triển vọng phát triển quan hệ thƣơng mại Mỹ- Ấn Độ 3.1 Những nhân tố chi phối quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ trong thời gian tới 3.2 Triển vọng quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ 3.3 Tác động của việc mở rộng quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ tới Việt Nam 1 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI MỸ- ẤN ĐỘ 1.1 Cơ sở lý luận của quan hệ thƣơng mại Mỹ- Ấn Độ Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán trên cơ sở nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ quốc tế làm môi giới và đảm bảo lợi ích của các bên. Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên cơ sở những lợi thế khác biệt giữa các quốc gia. Điều này đã được giải nhiều nhà kinh tế nổi tiếng chứng minh qua các lý thuyết: Lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh… 1.1 Lợi thế tuyệt đối trong quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ Nhà kinh tế học người Anh Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc của thương mại quốc tế. Từ việc xây dựng mô hình thương mại giản đơn dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối, ông đã giải thích lợi ích thu được từ thương mại quốc tế đối với các quốc gia.
Mỗi quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng cụ thể nào đó do có điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau. Nhờ chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi mà cả hai quốc gia đều được hưởng lợi từ thương mại. Ý tưởng về lợi thế tuyệt đối và thương mại quốc tế có thể được minh họa bằng mô hình thương mại đơn giản dưới đây: Giả sử việc trao đổi chỉ diễn ra giữa hai quốc gia Mỹ- Ấn Độ với hai mặt hàng là nhôm và gạo, trong đó, lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và 1 được di chuyển giữa hai quốc gia. Số lượng lao động cần thiết ở từng nước để sản xuất mỗi đơn vị nhôm và gạo được thể hiện trong bảng 1.1 Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối Đơn vị: giờ lao động Mặt hàng sản xuất Mỹ ấn Độ Nhôm 2 6 Gạo 5 3 Khi chưa có thương mại, mỗi nước đều tự sản xuất cả 2 mặt hàng để tiêu dùng.
Tại Mỹ mất 2h lao động sản xuất được 1 đơn vị nhôm, còn ở Ấn Độ là 6h lao động sản xuất được 1 đơn vị nhôm, ngược lại Mỹ mất 5h lao động để sản xuất được 1 đơn vị gạo và Ấn Độ mất 3h lao động được 1 đơn vị gạo. Có thể thấy ngay rằng, Ấn Độ có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo, còn Mỹ-sản xuất nhôm. Sau khi hai nước thực hiện thương mại với nhau thì Ấn Độ sẽ tập trung sản xuất gạo, còn Mỹ thì chuyên môn hóa sản xuất nhôm, sau đó hai nước tiến hành trao đổi một phần sản phẩm cho nhau tạo nên lợi nhuận tăng thêm cho cả hai nước. Động cơ thúc đẩy việc trao đổi thương mại giữa hai nước là ở chỗ mỗi nước đều mong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa hơn với mức giá thấp hơn.
Do giá nhôm ở Ấn Độ cao hơn nên Ấn Độ sẽ có lợi khi mua nhôm của Mỹ thay vì tự sản xuất trong nước và tương tự như vậy đối với mặt hàng gạo. Thương mại giữa hai nước còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất và tiêu dùng của toàn thế giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối. 1 Giả sử, mỗi nước Ấn Độ và Mỹ có 120 đơn vị lao động và số lao động đó được chia đều cho hai ngành sản xuất gạo và nhôm. Trong điều kiện không có trao đổi.
Ấn Độ sản xuất 10 đơn vị nhôm và 20 đơn vị gạo, còn Mỹ tương ứng là 30 nhôm và 12 gạo. Sản lượng của toàn thế giới là 40 nhôm và 32 gạo. Khi hai nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, tức là 120 lao động của Ấn Độ tập trung vào sản xuất gạo và 120 lao động của Mỹ tập trung vào ngành sản xuất nhôm thì sản lượng của toàn thế giới sẽ cao hơn – tương ứng là 60 nhôm và 40 gạo ( so với trước đó tương ứng là 40 và 32 ). Rõ ràng là nhờ chuyên môn hóa và trao đổi sản lượng của thế giới tăng lên, mỗi nước có thể tăng lượng tiêu dùng cả hai mặt hàng và trở nên sung túc hơn.
Như vậy, lợi thế tuyệt đối đã giải thích được hướng chuyên môn hóa và trao đổi giữa hai quốc gia và giải thích được một phần lý do của thương mại quốc tế đối với một số mặt hàng và giữa hai nước đang phát triển và phát triển như Mỹ và Ấn Độ.2 Lợi thế so sánh trong quan hệ thương mại Mỹ- Ấn Độ Nếu như lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở của sự khác biệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau (hay nói khác sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối ) khi sản xuất mặt hàng nào đó thì lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối. Một nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng nhưng chỉ có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức lợi thế cao hơn. Ngược lại, một nước khác bất lợi trong sản xuất cả hai mặt hàng nhưng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức bất lợi nhỏ 1 hơn. Do đó, hai nước vẫn được lợi khi tiến hành sản xuất và trao đổi cho nhau những sản phẩm có nhiều lợi thế nhất và tiến hành nhập khẩu những sản phẩm mà việc sản xuất chúng gặp nhiều bất lợi.
Sử dụng mô hình thương mại giữa Mỹ và Ấn Độ dưới đây để minh họa, với các giả định: - không có chi phí vận chuyển hàng hóa. - chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô - chỉ có hai nước sản xuât hai loại sản phẩm - những hàng hóa trao đổi giống hệt nhau - các nhân tố sản xuất chuyển dịch một các hoàn hảo - không có thuế quan và rào cản thương mại - thông tin hoàn hảo.2 Chi phí về lao động để sản xuất Đơn vị: giờ công lao động Sản phẩm Tại ấn Độ Tại Mỹ 1 đơn vị lúa mỳ 15 10 1 đơn vị rượu vang 30 15 Trong ví dụ này Mỹ có lợi thế tuyệt đối so với Ấn Độ trong sản xuất cả lúa mỳ lẫn rượu vang: năng suất lao đông của Mỹ gấp hai lần Ấn Độ trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ. Theo suy nghĩ thông thường, trong trường hợp này Mỹ sẽ không nên nhập khẩu mặt hàng nào từ Ấn Độ cả. Thế nhưng phân tích của Ricardo đã dẫn đến kết luận hoàn toàn khác: 1 1 đơn vị rượu vang tại Ấn Độ sản xuất phải tốn chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 2 đơn vị lúa mỹ; trong khi đó tại Mỹ, để sản xuất 1 đơn vị rượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mỳ.
Vì thế ở Mỹ sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với Ấn Độ. Tương tự như vậy, ở Ấn Độ sản xuât lúa mỹ rẻ hơn tương đối so với Mỹ. Giả định nguồn lực lao động của Ấn Độ là 270 giờ công lao động, còn của Mỹ là 180 giờ công lao động Nếu không có thương mại, cả hai nước sẽ sản xuất cả hai hàng hóa và theo chi phí tại bảng 1.2 thì kết quả là số lượng sản phẩm được sản xuất như sau Bảng 1.3 Sản phẩm hàng hóa sản xuất ra trước khi có thương mại Quốc gia Số đơn vị lúa mỳ Số đơn vị rượu vang Ấn §é 8 5 Mü 9 6 Tæng 17 11 NÕu Mü chØ s¶n xuÊt r•îu vang cßn Ấn Độ chỉ sản xuất lúa mỳ rồi trao đổi thương mại với nhau thì số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ là: Bảng 1.4 Sản phẩm hàng hóa sản xuất ra sau khi có thương mại Quốc gia Số đơn vị lúa mỳ Số đơn vị rượu vang Ấn §é 18 0 Mü 0 12 Tæng 18 12 1 Râ rµng sau khi cã th•¬ng m¹i vµ mçi n•íc chØ tËp trung s¶n xuÊt hµng hãa mµ m×nh cã lîi thÕ so s¸nh, tæng sè l•îng s¶n phÈm cña lóa mú vµ r•îu vang cña c¶ hai n•íc ®Òu t¨ng h¬n so víi tr•íc khi cã th•¬ng m¹i.2 Cơ sở thực tiễn của quan hệ thƣơng mại Mỹ- Ấn Độ 1.1 Nhu cầu và tiềm năng trao đổi hàng hoá thương mại Mỹ - Ấn Độ Nhu cầu trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các lãnh thổ và giữa các quốc gia đã có từ xa xưa trong lịch sử của loài người. Hoạt động này diễn ra phổ biến ở mọi nơi với mức độ khác nhau vì những mong mỏi đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của mỗi cá nhân và mỗi quốc gia trong khi khả năng tự sản xuất một số mặt hàng vượt quá nhu cầu; ngược lại một số mặt hàng khác thì không thể đáp ứng hoặc đáp ứng không đủ.
Cả Mỹ và Ấn Độ trong lịch sử tồn tại của mình đều phải thực hiện những hoạt động nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu của mình. Tùy vào sự phát triển của nền kinh tế, mỗi quốc gia, ở mỗi thời kỳ, có nhu cầu trao đổi thương mại khác nhau. Hiện tại, Mỹ có nhu cầu rất lớn xuất khẩu những mặt hàng công nghiệp cơ khí chế tạo có dung lượng vốn và hàm lượng công nghệ cao như máy bay, ô tô, thiết bị y tế; dược phẩm; sản phẩm công nghệ thông tin, đặc biệt là phần mềm; hàng nông sản; dịch vụ tài chính.