Tổng quan nghiên cứu

Quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong giai đoạn 1991–2016 là một tiến trình lịch sử đặc biệt, kế thừa nền tảng hơn 41 năm hợp tác Xô – Việt (1950–1991) và chuyển mình mạnh mẽ trong bối cảnh trật tự thế giới đa cực sau Chiến tranh Lạnh. Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, hai quốc gia đã từng bước khôi phục và thiết lập khung khổ pháp lý mới với hơn 80 thỏa thuận hợp tác song phương được ký kết. Đỉnh cao của tiến trình này là việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược vào năm 2001 và Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2012, khẳng định vị thế ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của cả hai bên.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là phân tích sự chuyển dịch từ mô hình hợp tác dựa trên hệ tư tưởng sang mô hình đối tác thực chất, bình đẳng và cùng có lợi. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm làm rõ các nhân tố tác động, phân tích thực trạng hợp tác trên các trụ cột then chốt gồm chính trị, ngoại giao, an ninh - quốc phòng, kinh tế - thương mại, năng lượng dầu khí và giáo dục - văn hóa trong suốt 25 năm (1991–2016). Đồng thời, nghiên cứu nhận diện các khó khăn tồn tại và dự báo xu hướng phát triển song phương.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc hệ thống hóa các chỉ số phát triển mang tính bước ngoặt: giải quyết dứt điểm khoản nợ 11 tỷ USD thời kỳ Xô Viết thông qua quyết định xóa 85% nợ của Nga vào năm 2001, duy trì sản lượng khai thác trên 229 triệu tấn dầu thô tại Liên doanh Vietsovpetro, và thúc đẩy việc ký kết Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA) có hiệu lực từ tháng 10 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong quan hệ quốc tế là Thuyết Chủ nghĩa Hiện thực (Realism) và Thuyết Thể chế Tân tự do (Neoliberal Institutionalism). Chủ nghĩa Hiện thực được sử dụng để luận giải động lực hợp tác an ninh, địa chính trị và sự cân bằng quyền lực nước lớn tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là sự tương thích giữa "Chính sách hướng Đông" của Nga và chiến lược đa phương hóa của Việt Nam. Thuyết Thể chế Tân tự do được áp dụng để phân tích vai trò của các thể chế, điều ước quốc tế và các cơ chế hợp tác liên chính phủ trong việc thúc đẩy gắn kết kinh tế - thương mại.

Các khái niệm cốt lõi được xây dựng và chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: Đối tác chiến lược toàn diện (mức độ gắn kết chính trị - an ninh cao nhất giữa hai nhà nước), Địa chính trị năng lượng (sự can dự và liên kết an ninh quốc gia thông qua khai thác tài nguyên dầu khí), Cân bằng động lực chiến lược (sự điều chỉnh quan hệ song phương nhằm duy trì an ninh khu vực trước áp lực nước lớn), và Thể chế di cư lao động quốc tế (khung pháp lý quản lý luồng nhân lực di cư sau biến động thể chế).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ các văn kiện pháp lý liên chính phủ, tuyên bố chung cấp cao, báo cáo thống kê từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), cơ sở dữ liệu năng lượng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Liên doanh Vietsovpetro, cùng hệ thống tài liệu nghiên cứu chuyên sâu từ các viện hàn lâm khoa học của Việt Nam và Liên bang Nga.

Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) với quy mô cỡ mẫu gồm 82 văn bản hiệp định, nghị định thư và tuyên bố chung tiêu biểu được ký kết trong giai đoạn 1991–2016, kết hợp cùng chuỗi dữ liệu định lượng 25 năm về kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân vũ khí. Lý do chọn mẫu có chủ đích là nhằm tập trung bóc tách các văn kiện mang tính bước ngoặt định hình thể chế quan hệ hai nước.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phương pháp lịch sử - logic kết hợp phân tích định tính văn bản ngoại giao và so sánh thống kê định lượng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp tái hiện khách quan tiến trình phát triển theo trục thời gian, đồng thời bóc tách nguyên nhân sâu xa của các quyết sách chính trị gắn liền với bối cảnh biến đổi toàn cầu. Toàn bộ quy trình thu thập, đối chiếu và xử lý tài liệu được hoàn thành trong khung thời gian nghiên cứu 24 tháng (2017–2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hợp tác chính trị - ngoại giao đạt được độ tin cậy chiến lược rất cao với tần suất tiếp xúc cấp cao dày đặc. Giai đoạn 1991–2016 ghi nhận hơn 50 cuộc gặp gỡ, chuyến thăm chính thức giữa các nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Quốc hội hai nước. Cơ chế Đối thoại chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng - An ninh cấp Thứ trưởng Ngoại giao thường niên được thiết lập từ năm 2008 và cấp Thứ trưởng Quốc phòng từ năm 2013 đã tạo ra kênh tham vấn chiến lược chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên Hợp Quốc, APEC, ASEM và ASEAN.

Thứ hai, an ninh - quốc phòng là trụ cột chiến lược đặc biệt quan trọng với tỷ trọng áp đảo. Theo dữ liệu thống kê, trong giai đoạn 2011–2015, có đến 93% lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam do Liên bang Nga cung cấp. Từ năm 2012 đến 2016, Việt Nam đã đầu tư khoảng 5 tỷ USD vào việc mua sắm trang thiết bị quốc phòng, trở thành đối tác nhập khẩu vũ khí lớn thứ 3 của Nga trên toàn cầu. Hợp tác chuyển giao bao gồm 129 hệ thống tên lửa, 36 máy bay chiến đấu phản lực Su-30MK2, 8 tàu chiến mặt nước và 6 tàu ngầm lớp Kilo. Việt Nam cũng trở thành quốc gia duy nhất ngoài Nga được cấp chứng chỉ độc quyền sửa chữa, đại tu trực thăng dòng Mi trong khu vực.

Thứ ba, năng lượng dầu khí là đòn bẩy kinh tế cốt lõi và hiệu quả nhất. Tiêu biểu là Liên doanh Vietsovpetro sau hơn 3 thập kỷ phát triển đã khai thác vượt mốc 229 triệu tấn dầu thô từ Lô 09-1, thu gom trên 33 tỷ mét khối khí đồng hành, mang lại doanh thu bán dầu đạt gần 78 tỷ USD. Trong đó, phần nộp ngân sách nhà nước và lợi nhuận của phía Việt Nam đạt trên 48 tỷ USD, còn lợi nhuận của phía Nga đạt trên 11 tỷ USD, duy trì quy mô bộ máy với hơn 5.000 chuyên gia, kỹ sư và cán bộ kỹ thuật cao.

Thứ tư, hai bên đã giải quyết thỏa đáng các vấn đề lịch sử tồn đọng phức tạp. Năm 2001, Nga chính thức xóa 85% khoản nợ 11 tỷ USD của Việt Nam thời kỳ Xô Viết, số tiền 1,65 tỷ USD còn lại được tạo điều kiện thanh toán linh hoạt trong vòng 23 năm. Vấn đề quân cảng Cam Ranh được định hình lại vào ngày 02 tháng 05 năm 2002 khi Nga rút toàn bộ lực lượng đồn trú, chuyển giao hoàn toàn quyền kiểm soát cho Việt Nam và mở ra cơ chế tiếp vận hậu cần kỹ thuật bình đẳng từ năm 2014.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản tạo nên sự gắn kết bền vững là sự giao thoa lợi ích địa chính trị giữa hai quốc gia. Nga cần một đối tác tin cậy tại Đông Nam Á để triển khai chiến lược xoay trục sang Châu Á, trong khi Việt Nam cần đối tác lớn có năng lực công nghệ và quốc phòng vượt trội để hiện đại hóa quân đội, củng cố chủ quyền biển đảo.

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân bổ cơ cấu hợp tác có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ kết hợp (Combo Chart) giữa kim ngạch thương mại song phương và giá trị chuyển giao quốc phòng - năng lượng. Biểu đồ này sẽ thể hiện rõ nét độ lệch cơ cấu: trong khi hợp tác quốc phòng (khoảng 5 tỷ USD giai đoạn 2012–2016) và doanh thu dầu khí (78 tỷ USD lũy kế) đạt quy mô khổng lồ, thì kim ngạch thương mại hàng hóa dân sự hai chiều mới chỉ đạt mức 3 đến 4 tỷ USD mỗi năm, chưa đạt mục tiêu 5 tỷ USD đặt ra cho năm 2015.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của các học giả chuyên môn, luận văn của tác giả Stratii Viacheslav đã cập nhật toàn diện tác động của Hiệp định VN-EAEU FTA năm 2016 – dấu mốc mở ra cánh cửa miễn giảm thuế quan cho hàng trăm nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ rõ 5 rào cản hiện hữu: biến động địa chính trị phức tạp tại Biển Đông, quy chế pháp lý chưa hoàn chỉnh cho khoảng 15.000 lao động người Việt tự do tại Nga, rào cản thanh toán liên ngân hàng, sự khác biệt văn hóa doanh nghiệp và rào cản ngôn ngữ trong chuyển giao kỹ thuật công nghệ mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tối ưu hóa cơ chế thương mại và xuất nhập khẩu. Bộ Công Thương Việt Nam cùng Bộ Phát triển Kinh tế Liên bang Nga cần thúc đẩy tận dụng tối đa các ưu đãi thuế quan từ Hiệp định VN-EAEU FTA, đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên mức 10 tỷ USD trước năm 2025. Cần thiết lập các kênh logistics hàng hải trực tiếp và đơn giản hóa thủ tục kiểm dịch nông - thủy sản.

Thứ hai, mở rộng hợp tác năng lượng và phát triển công nghệ cao. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Công ty Zarubezhneft cần tiếp tục mở rộng địa bàn thăm dò khai thác sang các lô nước sâu ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam và các mỏ mới tại Liên bang Nga. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng đối tác Nga đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện dự án Trường Đại học Công nghệ Việt - Nga tại Hà Nội, đặt mục tiêu đào tạo chuyên sâu trên 1.000 kỹ sư công nghệ cao và năng lượng mỗi năm trong giai đoạn 2020–2025.

Thứ ba, nâng cấp chiều sâu hợp tác kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng. Bộ Quốc phòng hai nước cần chuyển dần từ mô hình mua sắm thuần túy sang hợp tác nghiên cứu, liên doanh sản xuất và chuyển giao công nghệ. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa phụ tùng sửa chữa khí tài lên 30-40% trước năm 2030, đồng thời mở rộng năng lực của Việt Nam thành trung tâm bảo dưỡng, đại tu máy bay trực thăng dòng Mi cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á và Nam Á.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý lao động và di cư. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Di trú Liên bang Nga tiến hành rà soát, ký kết nghị định thư sửa đổi nhằm hợp pháp hóa và cấp giấy phép làm việc ổn định cho khoảng 15.000 lao động tự do người Việt đang sinh sống tại Nga, hoàn thành mục tiêu này trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà hoạch định chính sách đối ngoại và cán bộ ngoại giao: Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phong phú về hơn 80 hiệp định và nghị định thư, là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng chiến lược ứng xử ngoại giao nước lớn và hoàn thiện cơ chế đối thoại an ninh song phương.

Doanh nghiệp và nhà đầu tư trong ngành năng lượng, xuất nhập khẩu: Cung cấp góc nhìn chi tiết về cơ cấu vận hành của các liên doanh như Vietsovpetro (doanh thu gần 78 tỷ USD), mở ra các hiểu biết thực tiễn về quy chuẩn pháp lý và lộ trình cắt giảm thuế quan theo Hiệp định VN-EAEU FTA.

Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Việt Nam học và Quan hệ Quốc tế: Nguồn tư liệu hệ thống hóa 25 năm quan hệ song phương dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu người Nga, cung cấp khung lý thuyết đa diện kết hợp giữa Chủ nghĩa Hiện thực và Thể chế Tân tự do.

Chuyên gia nghiên cứu chiến lược an ninh - quốc phòng: Nắm bắt chi tiết số liệu chuyển giao vũ khí (chiếm 93% thị phần nhập khẩu) và diễn biến lịch sử địa chiến lược tại vịnh Cam Ranh, phục vụ công tác phân tích cán cân quân sự khu vực.

Câu hỏi thường gặp

Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga được chính thức xác lập vào thời điểm nào?

Mối quan hệ song phương được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược vào tháng 03 năm 2001 trong chuyến thăm chính thức của Tổng thống Vladimir Putin tới Hà Nội. Đến tháng 07 năm 2012, trong chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai nước đã chính thức ký Tuyên bố chung nâng tầm quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Quyết định xử lý khoản nợ 11 tỷ USD thời Liên Xô đã được hai nước thống nhất ra sao?

Năm 2001, nhân chuyến thăm Nga của Thủ tướng Phan Văn Khải, hai bên đã ký thỏa thuận giải quyết dứt điểm các vướng mắc tài chính. Phía Liên bang Nga đồng ý xóa 85% tổng số nợ (tương đương khoảng 9,35 tỷ USD), 15% còn lại (1,65 tỷ USD) được Việt Nam thanh toán dần trong thời hạn 23 năm với mức lãi suất ưu đãi.

Tỷ trọng cung cấp vũ khí của Liên bang Nga cho Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức nào?

Nga là đối tác cung cấp vũ khí số một của Việt Nam. Dữ liệu từ Viện Nghiên cứu SIPRI cho thấy trong giai đoạn 2011–2015, có tới 93% lượng vũ khí của Việt Nam do Nga cung cấp. Riêng giai đoạn 2012–2016, Việt Nam đã chi khoảng 5 tỷ USD để nhập khẩu các khí tài hiện đại như tiêm kích Su-30MK2 và 6 tàu ngầm Kilo.

Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đóng góp những kết quả nổi bật nào cho nền kinh tế hai nước?

Sau hơn 3 thập kỷ vận hành, Vietsovpetro đã khai thác trên 229 triệu tấn dầu thô tại mỏ Bạch Hổ và các lô phụ cận, thu gom 33 tỷ m3 khí đồng hành, tạo ra doanh thu gần 78 tỷ USD. Liên doanh đã đóng góp cho ngân sách và lợi nhuận phía Việt Nam hơn 48 tỷ USD, đồng thời mang lại lợi nhuận trên 11 tỷ USD cho phía Nga.

Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu có hiệu lực khi nào và mang lại lợi ích gì?

Hiệp định VN-EAEU FTA được ký ngày 29 tháng 05 năm 2015 tại Kazakhstan và chính thức có hiệu lực từ ngày 05 tháng 10 năm 2016. Hiệp định tạo khung pháp lý tự do hóa thương mại, cắt giảm thuế quan về 0% cho gần 90% dòng thuế, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kim ngạch hàng hóa hai chiều.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của tác giả Stratii Viacheslav đã thực hiện một công trình nghiên cứu công phu, hệ thống hóa toàn diện quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga giai đoạn 1991–2016 với 5 kết luận then chốt:

  • Khẳng định sự chuyển đổi mô hình quan hệ thành công từ đồng minh ý thức hệ Xô - Việt sang quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện dựa trên lợi ích quốc gia thực chất và luật pháp quốc tế.
  • Xác định năng lượng dầu khí (với biểu tượng Vietsovpetro mang lại doanh thu gần 78 tỷ USD) và an ninh - quốc phòng (cung cấp 93% lượng vũ khí nhập khẩu) là hai trụ cột nâng đỡ toàn bộ cấu trúc quan hệ song phương.
  • Ghi nhận thành tựu ngoại giao vượt bậc trong việc tháo gỡ dứt điểm nút thắt lịch sử về khoản nợ vay 11 tỷ USD và tái định hình vị thế chiến lược tại quân cảng Cam Ranh.
  • Đánh giá cao vai trò tạo lập thị trường của Hiệp định VN-EAEU FTA có hiệu lực từ tháng 10 năm 2016 trong việc mở rộng dư địa hợp tác kinh tế - thương mại.
  • Nhận diện các rào cản cốt lõi về cơ cấu thương mại dân sự mất cân đối, rào cản ngôn ngữ và thách thức di trú để định hình các giải pháp chính sách đến năm 2030.

Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao cho giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đối ngoại. Độc giả quan tâm đến các khía cạnh phân tích chi tiết, số liệu điều ước quốc tế và hồ sơ hợp tác song phương có thể tiếp tục tiếp cận toàn văn luận văn tại thư viện chuyên ngành để phục vụ các dự án nghiên cứu và định hướng hợp tác quốc tế tiếp theo.