Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ÐỘNG ÐẾN QUAN HỆ ÐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ÐỘ 1. Quan điểm tiếp cận về quan hệ Ðối tác Chiến lược Toàn diện 1. Về quan hệ Đối tác Chiến lược Sau Chiến tranh lạnh, trong quan hệ quốc tế hình thành một số hình thức mới. Các quốc gia với thể chế chính trị, kinh tế khác nhau đã tìm những phương cách mới và áp dụng chúng một cách linh hoạt để thúc đẩy quan hệ với nhau.
Trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, dưới góc nhìn chính trị học, quan hệ quốc tế, người ta thường phân định ra thành bốn cấp độ từ thấp đến cao lần lượt là: Đối tác (Partnership) - Đối tác Toàn diện (Comprehensive Partnership) - Đối tác Chiến lược (Strategic Partnership) và mức cao nhất là Đối tác Chiến lược Toàn diện (Comprehensively Strategic Partnership). Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác” [61].
Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung. Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu.
Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan 9 đến các lĩnh vực an ninh - quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh - quân sự. Đối tác Chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh - quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win - win” cùng có lợi). Đặc điểm của Quan hệ Đối tác Chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự. Đối tác Chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên.
Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”. Thuật ngữ “Đối tác Chiến lược” lần đầu được sử dụng vào khoảng những năm 1990, 1991 để chỉ quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Từ đó đến nay, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi. Theo quan niệm của giáo sư Valery Loskin (Nga), thì “Đối tác Chiến lược” phải bao gồm những nội dung sau: không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau.
Đối với Mỹ, đối tác chiến lược phải bao gồm hợp tác chặt chẽ về quân sự, an ninh. Về hình thức: Đối tác Chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể. Trong thực tế, có những mối quan hệ tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng thực chất lại còn hơn cả đối tác chiến lược. Ví dụ: quan hệ Mỹ - EU tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng mối quan hệ hợp tác thì vô cùng chặt chẽ.
Còn quan hệ Brazil - EU tuy là quan hệ đối tác chiến lược nhưng mức độ quan hệ không thể so sánh được với quan hệ Mỹ - EU. 10 Như vậy có thể hiểu, quan hệ Đối tác Chiến lược là một hình thức quan hệ quốc tế, phản ánh nguyện vọng của các chủ thể khi tham gia vào khuôn khổ quan hệ này. Nó thể hiện cam kết cao hơn mối quan hệ song phương thông thường nhưng chưa đến mức hình thành một liên minh quân sự. Nó là thước đo mức độ ràng buộc, đan xen lợi ích giữa các chủ thể quan hệ quốc tế, vượt ra ngoài phạm vi hữu nghị và hợp tác nhưng chưa đến mức ràng buộc pháp lý.
Với Việt Nam, Đối tác Chiến lược là mối quan hệ chiến lược gắn với ngoại giao, kinh tế. Quan hệ Đối tác chiến lược mà Việt Nam quan niệm bao gồm hợp tác về an ninh, thịnh vượng và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. An ninh: quan hệ đối tác chiến lược đó sẽ giúp cho Việt Nam củng cố nền tảng ngoại giao và quốc phòng, hỗ trợ tích cực cho Việt Nam trong việc giữ gìn an ninh, bảo toàn chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Thịnh vượng: mối quan hệ kinh tế với đối tác đó phải góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Nó thể hiện trên các lĩnh vực: quan hệ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển (ODA) và chuyển giao công nghệ. Ví dụ như: thương mại song phương phải đạt kim ngạch tối thiểu 10 tỷ USD, đầu tư song phương đạt từ 5 tỷ USD trở lên,… Nếu các tiêu chí đó chưa đạt được thì phải xét đến quy mô và mức độ phát triển của quốc gia đó. Nâng cao vị thế của Việt Nam: quốc gia đối tác chiến lược phải là những nước lớn, hoặc cường quốc hạng trung tiêu biểu; có vị thế và ảnh hưởng quan trọng, đáng kể đối với đời sống chính trị thế giới và khu vực. Ngoài 3 tiêu chí an ninh, thịnh vượng, nâng cao vị thế của Việt Nam cần phải có những tiêu chí khác nữa như quan hệ lâu dài, cùng có lợi (mức độ lợi ích có thể chia đều, hoặc hơn kém do hai nước quy định), có niềm tin tưởng vào nhau… 1.
Về quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Hiện nay, vẫn chưa xuất hiện một khái niệm chung về khuôn khổ, nội hàm, mục đích và ý nghĩa của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Tuy 11 vậy, trong nhận thức và qua nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn trình bày quan điểm của mình về vấn đề này như sau: Theo từ điển Wikipedia: Đối tác Chiến lược Toàn diện hay còn gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tức là hai hay nhiều bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi. Đồng thời hai bên còn xây dựng sự tin cậy lẫn nhau ở cấp chiến lược [74]. Đến nay, Việt Nam có quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Trung Quốc (năm 2008), Nga (năm 2012) và Ấn Độ (năm 2016).
Từ quan niệm về quan hệ Đối tác Chiến lược, có thể thấy, nó được phân thành các cấp độ khác nhau, chủ yếu dựa trên mức độ hợp tác và sự tin cậy lẫn nhau. Mức thấp nhất là quan hệ đối tác toàn diện, khi một hoặc một số khía cạnh của mối quan hệ giữa các bên tham gia đã đạt đến cấp chiến lược, nhưng thậm chí giữa các khía cạnh hợp tác khác nhau. Do sự tin cậy lẫn nhau chưa đủ hoặc thời gian cho quan hệ đối tác chiến lược chưa chín muồi, các bên lựa chọn xây dựng một khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện với ý nghĩa là họ nhấn mạnh vào hợp tác, đồng thời củng cố hơn nữa sự tin cậy lẫn nhau và cùng nhau hướng tới tương lai. Một số nước cũng phân loại quan hệ đối tác thành quan hệ đối tác thiết yếu, quan hệ đối tác quan trọng, quan hệ đối tác quan trọng, quan hệ đối tác tự nhiên, trong số những quốc gia khác.
Mức độ quan hệ Đối tác Chiến lược thấp hơn là trong một lĩnh vực hẹp hoặc cho một mục đích cụ thể, ví dụ, quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình hoặc hợp tác và phát triển. Các quan hệ đối tác chiến lược kiểu này đã nhanh chóng tăng lên về số lượng. Cấp cao nhất là quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện hoặc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, bao gồm hai bên trở lên gắn bó lợi ích lâu dài với nhau, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy hợp tác toàn diện, sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực vì lợi ích chung của cả hai bên. Đồng thời, các bên liên quan cũng xây dựng lòng tin lẫn nhau ở tầm chiến lược.
12 Mặt khác, xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược không phải là việc một sớm một chiều. Hầu hết các hiệp định như vậy được xây dựng dựa trên “mối quan hệ hữu nghị”, “mối quan hệ hợp tác” hoặc “quan hệ đối tác” hiện có. Việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược lên quan hệ đối tác toàn diện một vài năm sau khi ra mắt cũng là một điều phổ biến [58]. Như vậy có thể hiểu: quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện là một hình thức quan hệ quốc tế, phản ánh nguyện vọng của các chủ thể khi tham gia vào khuôn khổ quan hệ này.
Nó thể hiện sự hợp tác bình, đôi bên cùng có lợi, đa chiều, rộng khắp và đa tầng với các cấp độ song phương, đa phương bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội được tiến hành bởi cả chính phủ và các nhóm phi chính phủ. Nó được thực hiện trên cơ sở tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, nỗ lực mở rộng các lợi ích hội tụ và tìm kiêm điểm chung về các vấn đề lớn, hạn chế sự khác biệt ở những vấn đề nhỏ. Nó vượt qua sự khác biệt về hệ tư tưởng và thể chế chính trị và không chịu tác động của các sự kiện riêng lẻ xảy ra theo thời gian. Nhân tố khách quan 1.