Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” C.Mác nhận định: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” (C.Ăng-ghen, 1995a, tr. Những quan điểm của C.Ăng-ghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” một mặt là sự phản ánh, chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội nước Đức từ cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX; mặt khác là sự tiếp thu và kế thừa những tư tưởng về nghiên cứu khoa học, triết học trước đó. Con người ai cũng sẽ gắn với một thời điểm lịch sử cụ thể và phần nào chịu tác động từ điều kiện xã hội, lịch sử và xã hội đó như C.Ăng-ghen viết: “Chính trong đời sống hiện thực - là nơi bắt đầu khoa học thực sự, thực chứng, sự miêu tả hoạt động thực tiễn và quá trình thực tiễn của sự phát triển của con người.
Những luận điệu trống rỗng về ý thức chấm dứt; thay cho những luận điệu đó phải là tri thức thực sự. Hiện thực mà được mô tả thì triết học độc lập sẽ mất môi trường tồn tại” (C.Mác và Ăng- ghen, 1995c, tr. Bởi vậy, theo quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử thì bất kỳ một tư tưởng, học thuyết, quan điểm nào cũng xuất phát từ tồn tại xã hội nghĩa là có nguồn gốc từ những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định hay bất cứ một tác phẩm nào ra đời đều phải dựa trên một hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội nhất định, tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” cũng không ngoại lệ. Điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở Đức góp phần ra đời tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Từ những con người trong thực tiễn, sống giữa đời thường, họ lao động trong bối cảnh xã hội đương thời là điểm xuất phát cho những tư tưởng triết học của C.Ăng-ghen: “Chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy” (C.Ăng-ghen, 1995c, tr.
Đồng thời, phải: “Những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy” (C.Ăng-ghen, 1995c, tr. Điều này khác hoàn toàn với những tư tưởng triết học Đức bấy giờ là những tư tưởng giáo điều, mang tính chủ quan. Trở lại với lịch sử, cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648) với những nước láng giềng đã tàn phá nước Đức một cách mạnh bạo. Sau chiến tranh, hậu quả nặng nhất đối với nước Đức là bị chia cắt thành hàng trăm quốc gia nhỏ lẻ khiến đời sống nhân dân lâm vào cảnh cùng cực.
Sự chia cắt lãnh thổ đã làm cho nền kinh tế vương quốc Đức bấy giờ lâm vào tình trạng bị gián đoạn thiếu đi những mối liên kết trong một vương quốc chung vì mỗi tiểu vương quốc có hệ thống pháp luật riêng, đo lường riêng, có hệ thống tiền tệ riêng. Điều này, gây cản trở trực tiếp tới việc sản xuất, trong kinh tế bị gián đoạn, lưu thông kém phát triển. Biên giới mỗi vương quốc đều xây dựng những trạm thuế quan ở đường thủy và đường bộ làm cản trở lưu thông kinh tế đất nước khiến đời sống kinh tế Liên Bang Đức trì trệ. Không có một thị trường thống nhất nên nền kinh tế nước Đức hầu như bị tê liệt.Ăng-ghen nhận xét kinh tế Đức: “Đây là cả một đống những cái chán chường, mục nát và tan rã.
Không 15 ai cảm thấy dễ chịu. Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực. Nông dân thợ thủ công và chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải, chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều” (C.Ăng-ghen, 1995b, tr. Mặt khác, về chính trị: “Thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và xã hội”: “Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” (C.Ăng-ghen, 1995b, tr.
Với tình hình bấy giờ như vậy nên Ph.Ăng-ghen đã đặt ra vấn đề cần phải giải quyết: “Toàn bộ chính sách thương mại của Đức, và tương ứng là của Liên minh thuế quan, phải được tước khỏi những bàn tay bất tài của các vua chúa Đức, của các vị bộ trưởng của họ và bọn quan lại kênh kiệu nhưng hết sức đần độn và dốt nát trong các vấn đề thương mại và công nghiệp, chuyển giao cho những người có kiến thức cần thiết về ngành này và trực tiếp quan tâm đến nó, điều khiển và xử lý. Nói khác đi, vấn đề thuế quan bảo hộ và thuế suất sai biệt hoặc mậu dịch tự do phải được chuyển giao toàn bộ cho giai cấp tư sản xử lý” (C.Ăng-ghen, 1995d, tr. Đến nửa đầu thế kỷ XIX, người nông dân Đức sống trong tình trạng vô cùng cực khổ, họ bị gánh nặng tô thuế cùng với đó là các thứ nghĩa vụ phong kiến đè nặng lên vai. Hơn nữa, đất đai đều tập trung trong tay bọn quý tộc nên người nông dân không có đất để cày cấy, sản xuất.
Họ vừa bị bóc lột giá trị thặng dư, vừa phải đóng góp nghĩa vụ cho nhà nước phong kiến. Xã hội Đức bấy giờ một mặt là nhà nước thiếu đi sự thống nhất, bộ máy nhà nước trở nên lỏng lẻo; mặt khác kinh tế đất nước trì trệ. Trong xã hội tối tăm đó, nhân dân sống trong cảnh cơ hàn, lầm than. Vì vậy, vào những năm 40 - 50 của thế kỷ XIX khắp nơi trên nước Đức đã dấy lên làn sóng khởi 16 nghĩa của nông dân, nhưng vì thiếu tổ chức và lãnh đạo nên không tránh khỏi thất bại khi mà chủ nghĩa tư bản đã thiết lập ở nhiều nước Châu Âu điển hình như Anh, Pháp, Italia.
đã có những bước đột phá, tạo ra một nền sản xuất lớn trong lịch sử: “Trong sự hỗn độn khắp nơi đó, những cường quốc hùng mạnh đã xuất hiện để rồi lại chìm nghỉm đi liền ngay đó, những anh hùng đã xuất hiện trong khoảnh khắc để rồi lại bị những đối thủ táo bạo hơn và mạnh hơn quẳng vào bóng tối” (C.Ăng-ghen, 1995c, tr. Mặt khác, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp ở các nước châu Âu nền kinh tế công - thương nghiệp Đức bắt đầu phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng công nghiệp Đức chính thức bắt đầu nổ ra vào những năm 40 thế kỷ XIX và cũng đã có những tiến bộ đáng kể. Theo sự phát triển của nền công nghiệp thì giai cấp công nhân ra đời.
Giai cấp công nhân là một giai cấp mới trong xã hội đồng thời tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến. Khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển và bước đầu của công cuộc công nghiệp hóa đem đến cho công nhân Đức những tai họa nặng nề và cũng bởi vì công nhân không có chỗ đứng trong xã hội. Nền công nghiệp mới phát triển của Đức, đã phải cạnh tranh với nền công nghiệp nước ngoài tiên tiến hơn về mặt kỹ thuật nên chủ các công xưởng, nhà máy… bằng cách tấn công vào những người công nhân như thời gian làm việc của công nhân nhiều (14-16 giờ/ngày), lương thấp không đáp ứng được nhu cầu cơ bản hằng ngày. Với những bất công như nên công nhân sớm tiến hành đấu tranh phản kháng.
Với những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân như vậy dần dần giai cấp công nhân Đức đã có những tổ chức đầu tiên của mình. Năm 1815, theo quyết nghị của hội nghị Wien thì nước Đức ở trong tình trạng bị chia cắt với hình thức là một quốc gia liên bang (gọi là Liên bang 17 Đức). Liên bang Đức bấy giờ bao gồm đến 38 nhà nước (Áo và Phổ là hai nước lớn mạnh nhất của Liên bang). Liên bang Đức là một tổ chức nhà nước lỏng lẻo, cơ quan tối cao là Hội nghị Liên bang, quyền lực ở trong tay giai cấp quý tộc của từng vương quốc.Việc duy trì lâu dài chế độ sở hữu phong kiến, tình trạng bị chia cắt về chính trị của nước Đức đã kìm hãm sự tiến lên của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có một thị trường dân tộc thống nhất.
Khi bị áp bức bóc lột, sống cùng cực, cũng như giai cấp không có quyền lợi thì những người công nhân đã đứng lên đấu tranh. Những phong trào đấu tranh trong những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX chứng tỏ rằng giai cấp công nhân thế giới, đã khẳng định địa vị chính trị là một giai cấp độc lập. Nhưng vì giai cấp công nhân bấy giờ tổ chức chưa vững mạnh và cũng chưa được trang bị hệ thống lý luận khoa học nên chưa thể giành được thắng lợi. Trong xã hội chủ nghĩa tư bản thời kỳ này, với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đem lại cho lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất một tính chất xã hội tiến bộ nhưng lại xảy ra mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất và hình thức chiếm hữu tư nhân.
Mâu thuẫn ở đây là những tư liệu sản xuất và sản phẩm của nền sản xuất xã hội ấy không nằm trong tay người sản xuất ra tức là công nhân, mà lại rơi vào tay người chiếm hữu tư liệu sản xuất cũng là nhà tư bản nắm giữ. Bấy giờ, tuy có những trào lưu xã hội không tưởng nhưng đã không thể đáp ứng được yêu cầu của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản hay giai cấp công nhân chưa đòi được quyền lợi cho mình. Bởi vậy nên giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản lại có những mâu thuẫn gay gắt. Giai cấp vô sản lúc này ý thức được những lợi ích của mình và tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Đó là cơ sở kinh tế - xã hội khiến chủ nghĩa Mác ra đời hay nói cách khác là những quan điểm duy vật về lịch sử được hệ thống hóa trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”.