Chương 1: Bối cảnh lịch sử và các điều kiện hình thành thành phố Nam Định Chương 2: Quá trình hình thành thành phố Nam Định từ năm 1884 đến năm 1921 Chương 3: Tổ chức bộ máy quản lý hành chính thành phố Nam Định từ năm 1884 đến năm 1921 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX 1. Hiệp ước Patenôtre và phong trào chống Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX Năm 1882, thực dân Pháp lại kéo quân ra Bắc Kỳ lần thứ hai. Thành Hà Nội và các tỉnh lân cận lại nhanh chóng rơi vào tay thực dân Pháp.
Tuy nhiên, cũng tương tự như cuộc viễn chinh gần 10 năm về trước, dù có chiếm lỵ sở của các địa phương ở Bắc Kỳ khá dễ dàng nhưng thực dân Pháp đã rất lúng túng khi đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân các địa phương. Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai ngày 19 tháng 5 năm 1883 đã làm cho tinh thần chống Pháp của nhân dân đang thêm hứng khởi đẩy quân Pháp ở Bắc Kỳ vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng [12; 146]. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó triều Nguyễn lại tỏ ra thiếu quyết đoán trong việc chỉ đạo nhân dân đánh giặc. Từ đó, đã tạo điều kiện cho quân Pháp có thời gian để củng cố và bổ sung lực lượng để trấn áp các phong trào yêu nước của nhân dân.
Ngày 17 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức băng hà, triều đình Huế càng thêm rối ren. Nhân cơ hội đó, ngày 25 tháng 8 năm 1883, thực dân Pháp đã ép triều Nguyễn ký hiệp ước Harmand gồm 27 điều [39; 573-576]. Theo tinh thần của hiệp ước, từ nay triều đình Huế phải công nhận quyền bảo hộ của chính phủ Pháp. Một năm sau đó, ngày 6 tháng 6 năm 1884, hiệp ước Patenôtre gồm 19 điều khoản được ký kết giữa triều đình Huế và đại diện chính phủ Pháp thay thế hiệp ước Harmand.
Theo đó, nhà Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn, chấp nhận sự thống trị của thực dân Pháp với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nước ta bị chia cắt thành 3 kỳ, với 3 chế độ khác nhau. Nam Kỳ là đất thuộc địa; Bắc 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỳ là xứ bảo hộ [39;577-581]. Ở Trung Kỳ, triều đình Huế có quân đội riêng nhưng thực chất phụ thuộc vào đại diện của chính phủ Pháp (Khâm sứ).
Hiệp ước Patenôtre đã đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp trên đất Việt Nam đúng như đánh giá của Giáo sư Nguyễn Phan Quang “Hiệp ước Patenôtre hoàn thiện việc biến nước ta thành nước thuộc địa của Pháp đồng thời xác định rõ vị thế mới của nhà Nguyễn- vị thế tay sai lệ thuộc- của chính quyền thực dân Pháp cả về đối nội lẫn đối ngoại” [31; 334] Hiệp ước Patenôtre được ký kết trong hoàn cảnh Việt Nam có nhiều diễn biến rất phức tạp. Trong triều đình Huế, cuộc tranh đấu giữa các phe phái diễn ra rất quyết liệt. Vua Hàm Nghi lên ngôi khẳng định sự thắng thế của phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết. Phe chủ chiến đã ráo riết chuẩn bị cho cuộc chính biến ở kinh thành Huế đồng thời di chuyển lực lượng và khí giới ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Khi phát hiện ra sự nghi ngờ của thực dân Pháp, Tôn Thất Thuyết đã quyết định nổ súng trước để giành thế chủ động vào đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885. Bị tấn công bất ngờ trong đêm nhưng quân Pháp vẫn tử thủ, chờ trời sáng để phản công. Quân triều đình chống trả rất anh dũng. Đến trưa ngày 5 tháng 7 năm 1885, trước ưu thế vượt trội về hỏa lực của giặc, quân triều đình rút khỏi kinh thành Huế chạy về Tân Sở (Quảng Trị) chuẩn bị lực lượng kháng Pháp lâu dài [31; 336].
Ở các địa phương, phong trào kháng Pháp diễn ra rất sôi nổi. Đặc biệt sau khi Dụ Cần vương của vua Hàm Nghi được ban bố. Nhiều trung tâm chống Pháp trong cả nước được thành lập và phát triển khiến cho thực dân Pháp vô cùng lúng túng và hoang mang tạo nên một cao trào kháng Pháp cuối thế kỷ XIX. Phong trào chống Pháp của văn thân sĩ phu cuối thế kỷ XIX hưởng ứng Dụ Cần vương đã thể hiện một tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam khi có họa xâm lăng.
Tuy nhiên, với những hạn chế về phương tiện vũ khí và đặc biệt là thiếu sự kết nối liên vùng nên các cuộc khởi nghĩa lần lượt bị thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp. Sự thất bại của các phong trào hưởng ứng Dụ Cần vương không đơn thuần là những thất bại của mô hình, phương thức chiến đấu mà nó còn là sự thất bại của hệ tư tưởng phong kiến đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc [16; 150]. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến các cuộc khởi nghĩa nông dân tự phát mà tiêu biểu đó là cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa này đã thu hút được đông đảo nông dân tham gia và có sức sống bền bỉ suốt cuối thế kỷ XIX sang đến đầu thế kỷ XX mới bị dập tắt.
Phong trào yêu nước ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đã chứng minh sức sống tiềm tàng của dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra với những quy mô khác nhau trên một địa bàn rộng lớn với các phương thức rất đa dạng. Những tư tưởng yêu nước truyền thống dần mất đi vai trò lãnh đạo để nhường chỗ cho sự du nhập của các luồng tư tưởng mới ở giai đoạn sau [38; 194]. Quá trình thiết lập bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Không phải đến thời điểm này người Pháp mới quan tâm đến vấn đề thiết lập bộ máy chính quyền thuộc địa.
Trong suốt thời gian mở rộng xâm lược, thực dân Pháp cũng đã ít nhiều quan tâm tới việc xây dựng bộ máy chính quyền trên địa bàn đã giành được quyền kiểm soát. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1862, sau hiệp Nhâm Tuất với những nhượng bộ đáng kể của triều Nguyễn, thực dân Pháp đã bước đầu thiết lập ở đây bộ máy chính quyền tay sai [39; 141]. Tuy nhiên, những cố gắng ban đầu này chỉ như những giải pháp tình thế trên những địa bàn cụ thể nhằm nhanh chóng đối phó với những cuộc đấu tranh của nhân dân địa phương. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho đến năm 1897, tổ chức hành chính của Liên bang Đông Dương vẫn nằm trong tình trạng phân tán và biệt lập cả về quyền lực lẫn cấu trúc chính quyền.
Bởi thế, việc quản lý hành chính ở Đông Dương gặp rất nhiều khó khăn. Toàn quyền Đông Dương trên danh nghĩa là người đứng đầu Đông Dương, có quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng trên thực tế, ảnh hưởng của ông ta chỉ ở các tỉnh Bắc Kỳ, một bộ phận của xứ Đông Dương. Tình trạng này bắt được đầu được cải thiện rõ rệt sau khi Paul Doumer sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương và được những người kế nhiệm tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện trong thời gian sau đó. Mặc dù vậy, trong suốt 20 năm đầu của thế kỷ XX, công cuộc xây dựng bộ máy chính quyền thuộc địa ở Đông Dương diễn ra liên tục nhưng không đồng nhất.
Mỗi viên toàn quyền lại có những đường lối cai trị riêng từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Paul Doumer sang nhận nhiệm vụ ở Đông Dương sau những mệt mỏi của chính quốc trước những cuộc nổi loạn của người bản xứ. Bởi vậy, dưới góc độ cá nhân, ông cũng khá do dự khi tới xứ sở xa lạ này công tác [29, 27- 31]. Đến khi thực sự phải gánh vác trọng trách người đứng đầu Đông Dương, Paul Doumer đã có những trăn trở nhất định trong việc thiết lập chế độ cai trịở thuộc địa.
Ông đã dành trọn những tháng ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ công tác của mình để tìm hiểu vùng đất và con người nơi đây. Và chính ông cũng nhận ra rằng Đông Dương đang ở trong tình trạng phân tán, thiếu thống nhất của bộ máy chính quyền thuộc địa. Chính vì thế, Paul Doumer đã nhanh chóng đưa ra chương trình hành động gồm 7 điểm và khẳng định vấn đề tổ chức bộ máy chính quyền phải là vấn đề trọng tâm và trước nhất [22; 112]. Việc xây dựng bộ máy chính quyền không chỉ đơn thuần là việc củng cố chính quyền trung ương của Đông Dương mà bao gồm cả quá trình thiết lập chế độ chính trị cho mỗi xứ.
Đây là cơ sở quan trọng để Paul Doumer thực hiện chương trình khai thác thuộc địa đầy tham vọng [40; 37]. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo đuổi một lập trường cứng rắn, Toàn quyền Paul Doumer đã nhanh chóng thiết lập cho Đông Dương một hệ thống chính quyền thống nhất. Đầu tiên, ông đã xác lập lại vai trò và vị trí của toàn quyền trên toàn bộ liên bang, thay vì chỉ là người điều khiển Bắc Kỳ. Từ nay, Toàn quyền Đông Dương sẽ là người điều khiển khắp nơi nhưng không cai trị ở đâu cả.
Đồng thời ông cũng cho tái lập Hội đồng Cao cấp Đông Dương bao gồm các thành viên là đại diện chính quyền các xứ, các lực lượng quân đội, các cơ quan trung ương và các chủ tịch các phòng canh nông của Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam kỳ. Trong khi đó, tại các xứ, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã tổ chức lại bộ máy chính quyền với những thiết chế riêng biệt nhưng cùng theo hướng phụ thuộc vào chính phủ trung ương. Theo đó, bộ máy chính quyền tại Nam Kỳ được tổ chức lại với các cơ quan của Phủ Thống đốc, các chủ tỉnh dựa trên một nền tư pháp Pháp và việc tổ chức ra ngân sách cấp tỉnh. Tại Trung Kỳ, ông đã cải tổ bộ máy cai trị của Nam triều bằng cách gia tăng số lượng viên chức người Pháp trong bộ máy chính quyền phong kiến, đồng thời bãi bỏ các cơ quan có quyền lực lớn trong triều đình như Hội đồng Phụ chính, Hội đồng Thượng thư và tổ chức lại Hội đồng Cơ mật với sự tham gia rộng rãi của các công chức Pháp do Khâm sứ Trung Kỳ đứng đầu.Song song với đó, các công sứ Pháp ở Trung Kỳ cũng được gia tăng về số lượng và quyền lực thực sự.