Tổng quan luận án
Luận án "Quá trình chuyển hóa của một số thực từ thành giới từ trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Vũ Văn Thi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lai, bảo vệ năm 1995 tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số 50408).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập phân tích tính điển hình với cấu trúc âm tiết chặt chẽ và số lượng âm tiết sử dụng trong hệ thống có giới hạn. Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn đảm nhiệm đầy đủ chức năng biểu đạt mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, văn hóa, khoa học và tư duy trừu tượng. Để đáp ứng nhu cầu biểu đạt này, tiếng Việt đã phát triển một hệ thống cấu trúc ngữ pháp hoàn chỉnh, trong đó hệ thống hư từ đóng vai trò công cụ ngữ pháp then chốt. Do đặc trưng loại hình đơn lập, hầu hết các hư từ làm công cụ ngữ pháp trong tiếng Việt đều có nguồn gốc chuyển hóa từ thực từ.
Mặc dù giới nghiên cứu Việt ngữ học trong và ngoài nước đều thừa nhận nguồn gốc thực từ của hư từ, nhưng cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình nào khảo sát, phân tích và lý giải toàn diện, chuyên sâu về cơ chế nội tại của quá trình chuyển hóa thực từ thành hư từ, đặc biệt là quá trình chuyển hóa thành giới từ – loại từ có mức độ hư hóa cao nhất trong hệ thống. Quá trình chuyển hóa này diễn ra song song trên hai bình diện:
- Bình diện ngữ nghĩa: Quá trình hư hóa, làm mờ nhạt và trừu tượng hóa dần ý nghĩa từ vựng cụ thể của từ.
- Bình diện ngữ pháp: Quá trình chuyển đổi chức vụ ngữ pháp từ vai trò một thành tố chính (độc lập) sang thành tố phụ đảm nhận chức năng ngữ pháp mới (nối kết và biểu thị quan hệ).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản của luận án là làm sáng tỏ bản chất, cơ chế và quy luật chuyển hóa từ thực từ thành hư từ (giới từ) trong tiếng Việt. Để đạt được mục tiêu đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Khảo sát, phân tích và nêu lên quá trình diễn biến nội tại cơ chế ngữ nghĩa của từ với tư cách là một thực thể từ vựng - ngữ nghĩa và từ vựng - ngữ pháp gắn với quá trình vận động chuyển nghĩa và chuyển đổi chức năng ngữ pháp của từ. Chỉ ra quá trình ngữ pháp hóa trên cơ sở sự biến đổi nội tại bên trong cơ chế ngữ nghĩa của từ.
- Khảo sát, phân tích đặc điểm của sự chuyển hóa, các phương thức chuyển hóa khác nhau cũng như các bước chuyển tiếp có thể có trong tiến trình hư hóa/ngữ pháp hóa của từ.
- Xác định những tiền đề và nhân tố tác động lên quá trình hư hóa của từ.
- Thông qua việc khảo sát và phân tích để lý giải chiều sâu của các hiện tượng ngữ pháp trên cơ sở ngữ nghĩa, qua đó nêu bật đặc trưng của loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự vận động và chuyển biến của một số nhóm thực từ tiêu biểu để trở thành hư từ, trọng tâm là quá trình chuyển hóa thành giới từ trong tiếng Việt. Các nhóm từ cụ thể bao gồm:
- Nhóm từ chỉ hướng vận động: đi, ra, vào, lên, xuống, đến, tới, sang, qua, về.
- Nhóm từ chỉ vị trí (thời vị từ): trên, dưới, trong, ngoài.
- Từ chỉ sự tồn tại: ở.
- Từ chỉ quan hệ sở hữu: của.
- Từ chỉ sự ban phát - tiếp nhận: cho.
- Phạm vi khảo sát tư liệu: Kết hợp bình diện đồng đại (tiếng Việt hiện đại) và bình diện lịch đại (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20) qua các văn bản chữ Nôm và Quốc ngữ điển hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề hư từ trong tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo các góc độ tiếp cận khác nhau. Luận án đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành 5 nhóm định hướng chính:
| Nhóm hướng nghiên cứu | Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản | Nội dung tiếp cận chính |
|---|---|---|
| 1. Hướng lịch sử gắn với từ cụ thể | - N. Stankêvich (1985): Về sự diễn biến của nhóm từ chỉ nguyên nhân - Vũ Đức Nghiệu (1985): Số cứ liệu về từ hư trong "Quốc âm thi tập" và "Hồng Đức quốc âm thi tập" - Phan Văn Phức (1983): Tìm hiểu về từ "đến" |
Khảo sát sự diễn biến lịch sử và biến động ngữ nghĩa của từng từ hư cụ thể qua văn bản lịch sử. |
| 2. Hướng tiêu chí nhận dạng và chức năng cú pháp | - Nguyễn Minh Thuyết (1985, 1986): Thảo luận vấn đề xác định từ hư trong tiếng Việt - Đinh Thanh Huệ (1985): Thử dùng một số tiêu chí để khu biệt hư từ cú pháp (giới từ) và hư từ phi cú pháp |
Xây dựng tiêu chí hình thức và chức năng để xác định ranh giới hư từ và phân loại giới từ. |
| 3. Hướng phân tích phẩm chất nghĩa | - Nguyễn Đức Dân (1982): Ngữ nghĩa của một số từ hư - Phan Ngọc (1989): Trở lại câu chuyện từ loại |
Tập trung vào cấu trúc ngữ nghĩa và bản chất phản ánh ý niệm của hư từ. |
| 4. Hướng so sánh loại hình | - I. Samatina (1985): Về loại hình các ý nghĩa không gian - N. Omeljanovich (1985): Về vai trò từ hư của các thực động từ trong các ngôn ngữ đơn lập - N. Stankêvich: Loại hình các ngôn ngữ |
So sánh hiện tượng ngữ pháp hóa thực từ trong tiếng Việt với các ngôn ngữ Đông Nam Á và ngôn ngữ đơn lập khác. |
| 5. Hướng tổng hợp ngữ nghĩa và chức năng | - Nguyễn Anh Quế (1989): Hư từ trong tiếng Việt hiện đại - Diệp Quang Ban (1989): Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông - Nguyễn Kim Thản (1977): Động từ tiếng Việt; (1963): Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt - Nguyễn Lai (1991): Từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt - Các tài liệu của Lê Văn Lý, Grammont, Cadière, Nguyễn Tài Cẩn |
Tổng thuật toàn diện hệ thống hư từ, tranh luận về tên gọi ("từ trống", "mots usés", "từ với nghĩa ít cụ thể", "công cụ ngữ pháp") và tiêu chuẩn phân định từ loại. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các tác giả đi trước chỉ dừng lại ở việc thảo luận tiêu chí phân định thực từ - hư từ, miêu tả vai trò hoặc biến động nghĩa của một số từ riêng lẻ, hoặc thừa nhận nguồn gốc thực từ một cách tổng quát. Chưa có công trình nào đi sâu miêu tả toàn diện cơ chế biến đổi ngữ nghĩa nội tại (sự phân rã, lược bỏ nghĩa tố), hiện tượng thừa nghĩa trong cấu trúc cú pháp, và các bước chuyển tiếp cụ thể từ thực từ qua giai đoạn trung gian (quá độ) để hình thành giới từ chính danh trong tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm thực từ và hư từ:
- Thực từ: Là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực, định danh đối tượng, quá trình, trạng thái, tính chất; có khả năng độc lập làm thành phần câu và làm trung tâm đoản ngữ (danh từ, động từ, tính từ).
- Hư từ: Là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không độc lập làm trung tâm đoản ngữ hay thành phần câu, chuyên biểu thị ý nghĩa ngữ pháp hoặc liên kết các thành tố.
- Hệ thống 6 tiêu chí nhận diện hư từ của Nguyễn Minh Thuyết:
- Không có ý nghĩa chân thực;
- Không có khả năng làm trung tâm đoản ngữ;
- Không có khả năng làm thành phần câu;
- Không có khả năng một mình tạo thành phát ngôn độc lập;
- Không có khả năng thay thế các từ nghi vấn;
- Không có khả năng được thay thế bằng những từ khác trong một nhóm chức năng tương đương.
- Ba khuynh hướng vận động của từ trong tiếng Việt:
- Khuynh hướng chuyển loại: Chuyển đổi từ loại giữa các thực từ (Danh từ $\leftrightarrow$ Động từ $\leftrightarrow$ Tính từ $\leftrightarrow$ Đại từ) nhằm mở rộng phạm vi ngữ pháp nhưng không làm biến đổi cơ chế từ vựng - ngữ nghĩa cơ bản và không tạo cấu trúc cú pháp mới.
- Khuynh hướng thành ngữ hóa: Biến đổi ngữ nghĩa từ theo hướng chuyên biệt hóa kết hợp (ví dụ từ "ăn" trong ăn đong, ăn gỏi, ăn ảnh, ăn vạ), làm mờ nghĩa gốc nhưng vẫn giữ nguyên phạm trù ngữ pháp (vẫn là động từ).
- Khuynh hướng hư hóa - ngữ pháp hóa: Vận động kép trên cả bình diện từ vựng - ngữ nghĩa (trừu tượng hóa, hao mòn nghĩa gốc) và ngữ pháp (chuyển từ vai trò thành tố chính sang thành tố phụ, tạo lập quan hệ cú pháp mới).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Kết hợp phân tích đồng đại và lịch đại: Đứng trên bình diện đồng đại để miêu tả các biến thể chức năng và ngữ nghĩa của từ trong các cấu trúc hiện nay; đồng thời lùi lại bình diện lịch đại để truy nguyên quá trình xuất hiện và ổn định cấu trúc theo trục thời gian.
- Thao tác cải biến và thay thế ngữ pháp: Sử dụng các phép thế, lược bỏ và thay đổi vị trí thành phần câu nhằm phát hiện ranh giới ngữ nghĩa và xác định mức độ phụ thuộc cú pháp.
- Phương pháp phân tích nghĩa tố: Phân tách cấu trúc ngữ nghĩa của từ thành các nét nghĩa (nghĩa tố vận động, nghĩa tố hướng, nghĩa tố phương thức...) để xác định cơ chế thừa nghĩa và hao mòn nghĩa.
Nguồn tư liệu khảo sát
- Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (thế kỷ 15), bản in trong Nguyễn Trãi Toàn tập (NXB Khoa học xã hội, 1986).
- Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ 16), NXB Văn học.
- Từ điển Alexandre de Rhodes (thế kỷ 17) - Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum.
- Truyện Kiều của Nguyễn Du (cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19) và Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh (NXB Khoa học xã hội, 1974).
- 80 tác phẩm văn học và chính luận tiếng Việt hiện đại.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Chương mở đầu
Chương này trình bày lý do chọn đề tài, tính cấp thiết, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và thực tiễn, tổng quan lịch sử vấn đề, giới thiệu đối tượng và phạm vi ngữ liệu khảo sát, cùng các phương pháp và khó khăn trong nghiên cứu ngữ pháp lịch sử tiếng Việt.
Chương II: Những khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài
Chương II tập trung xây dựng cơ sở lý luận về phân định thực từ - hư từ và vị trí của giới từ trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt:
- Phân định thực từ và hư từ trong ngôn ngữ đơn lập: Khác với ngôn ngữ tổng hợp tính (dựa vào biến đổi hình thái căn tố/phụ tố), tiếng Việt xác định từ tính dựa trên ý nghĩa từ vựng và khả năng kết hợp trong đoản ngữ.
- Bản chất của hư hóa - ngữ pháp hóa: Là sự vận động chuyển dịch chức năng từ đơn vị định danh sang đơn vị biểu thị quan hệ cú pháp, giúp mở rộng cấu trúc diễn đạt của ngôn ngữ.
- Đặc điểm của giới từ tiếng Việt:
- Là hư từ thuộc nhóm quan hệ từ, biểu thị quan hệ cú pháp chính - phụ giữa thành phần phụ và trung tâm.
- Phân biệt với liên từ (biểu thị quan hệ đẳng lập hoặc liên kết lỏng $A - q - B$) và trợ từ (bổ sung sắc thái tình thái, đứng sau thành phần).
- Vị trí điển hình: Đứng trước thành phần phụ ($A - q - B$ hoặc $q - B$).
- Hai đặc điểm riêng biệt của giới từ tiếng Việt: (1) Có nguồn gốc trực tiếp từ thực từ; (2) Tồn tại song song hai biến thể kết hợp: biến thể có giới từ và biến thể tỉnh lược giới từ mà không làm thay đổi nội dung thông báo cơ bản (ví dụ: bàn bằng gỗ $\leftrightarrow$ bàn gỗ; vay của bạn $\leftrightarrow$ vay bạn).
Chương III: Khảo sát cơ chế chuyển hóa từ thực từ thành hư từ
Chương này đi sâu phân tích cơ chế nội tại của sự chuyển hóa thông qua trường hợp điển hình của động từ "về" và danh từ "của":
Quá trình chuyển hóa lịch sử của từ "về"
Khảo sát qua các giai đoạn lịch sử cho thấy tiến trình xuất hiện các chức năng mới của từ "về":
| Nguồn tư liệu khảo sát | Thế kỷ | Số lần xuất hiện | Chức năng động từ | Chức năng phó từ chỉ hướng | Chức năng giới từ |
|---|---|---|---|---|---|
| Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) | 15 | 24 | 24/24 (100%) | 0 | 0 |
| Thơ văn Nôm (Nguyễn Bỉnh Khiêm) | 16 | 10 | 9/10 (90%) | 1/10 (chỉ hướng thời gian) | 0 |
| Từ điển (Alexandre de Rhodes) | 17 | - | Có mặt | Xuất hiện (hướng không gian, thời gian) | Chưa xuất hiện |
| Truyện Kiều (Nguyễn Du) | 18 - 19 | 79 | 57/79 (72,15%) | 22/79 (27,85%) | Chưa rõ nét |
| Tiếng Việt hiện đại | 20 | Đa dạng | Động từ vị ngữ | Phó từ chỉ hướng | Giới từ hoàn chỉnh |
Khảo sát các kết cấu đồng đại của từ "về"
Tác giả phân tích 5 mô hình kết cấu chứa từ "về":
(Tôi) về nhà: "Về" là động từ độc lập, mang đầy đủ cấu trúc nghĩa [Vận động + Hướng].(Tôi) chạy về nhà: "Về" đứng sau động từ vận động $V_1$ (chạy), tạo kết cấu $V_1 - V_2 - B$. Xuất hiện hiện tượng lặp/thừa nghĩa tố [Vận động], dẫn đến sự tiêu giảm nghĩa vận động ở $V_2$, biến "về" thành phó từ bổ sung nghĩa hướng.(Tôi) nhìn về Hà Nội: Nghĩa tố [Vận động] mất hoàn toàn, "về" chỉ định hướng không gian thuần túy, có thể lược bỏ trong một số ngữ cảnh (nhìn Hà Nội).Từ nay về sau: "Về" tham gia tạo tổ hợp trạng ngữ, biểu thị hướng thời gian trừu tượng.(Tôi) nghĩ về vấn đề này: Động từ $V_1$ (nghĩ) là hoạt động tư duy/tâm lý. Đối tượng nhận thức không nằm trong không gian vật lý. "Về" mất hoàn toàn nghĩa từ vựng cụ thể, chuyển hẳn thành giới từ thể hiện quan hệ đối tượng/nội dung tư duy.
Cơ chế tác động tạo nên sự chuyển hóa
- Nhân tố cú pháp: Việc đặt thực từ vào vị trí thành tố phụ sau một vị từ chính ($V_1 - V_2 - B$) tạo ra sự dư thừa nghĩa tố. Cấu trúc cú pháp đòi hỏi $V_2$ phải nhường vai trò vị ngữ chính để chuyển sang làm yếu tố phụ trợ hoặc móc nối cú pháp.
- Nhân tố ngữ nghĩa: Quá trình mài mòn nghĩa tố cụ thể diễn ra theo từng bước: từ hướng không gian cụ thể $\rightarrow$ hướng thời gian $\rightarrow$ hướng tâm lý/đối tượng trừu tượng. Khi nghĩa từ vựng mất hẳn, nghĩa ngữ pháp (quan hệ cú pháp) được xác lập đầy đủ.
Chương IV: Các phương thức chuyển hóa và mức độ hư hóa
Chương này mở rộng khảo sát trên toàn bộ các nhóm từ được chọn để khái quát các mức độ hư hóa khác nhau trong hệ thống:
- Các mức độ hư hóa:
- Mức độ còn liên hệ với nghĩa gốc: Các từ như ở, cho vẫn lưu giữ một phần nét nghĩa tồn tại hoặc ban phát/tiếp nhận.
- Mức độ hư hóa hoàn toàn: Các từ như rằng đã mất sạch mọi dấu vết ngữ nghĩa của động từ nói ban đầu.
- Mức độ đa chức năng song song: Các từ như về, đến, qua cùng tồn tại với cả ba tư cách: động từ, phó từ chỉ hướng, và giới từ.
- Giai đoạn quá độ: Luận án chỉ ra giai đoạn trung gian đặc thù khi từ vừa có tính chất của một phó từ bổ sung nghĩa cho vị từ chính, vừa có tính chất của một giới từ móc nối vị từ với bổ ngữ phía sau.
Chương V: Nhìn nhận một số vấn đề và đặc điểm của một số giới từ tiếng Việt dưới góc độ của sự chuyển hóa
Chương V vận dụng kết quả phân tích cơ chế chuyển hóa để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn:
- Lý giải tính đa chức năng của từ: Hiện tượng một hình thức ngữ âm đảm nhiệm nhiều chức năng (động từ, phó từ, giới từ) không phải là sự tùy tiện mà là phản ánh các lát cắt khác nhau của tiến trình ngữ pháp hóa đang diễn ra.
- Lý giải tính "cơ động" (khả năng lược bỏ) của giới từ: Do có nguồn gốc thực từ và ngữ nghĩa của giới từ vốn được chiết xuất từ mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần câu, nên trong nhiều cấu trúc, sự hiện diện của giới từ mang tính phân tích chi tiết, còn khi vắng mặt, quan hệ cú pháp vẫn được bảo toàn nhờ trật tự từ và ngữ cảnh.
- Ứng dụng thực tiễn: Định hướng phương pháp phân tích thành phần câu tiếng Việt, xây dựng cấu trúc bài giảng cho người nước ngoài học tiếng Việt, và định hướng xây dựng các bộ từ điển tối thiểu phục vụ giảng dạy ngôn ngữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ cơ chế ngữ pháp hóa trong ngôn ngữ đơn lập: Luận án đã chỉ ra quy luật chuyển hóa thực từ thành hư từ thông qua sự tác động biện chứng giữa cấu trúc cú pháp và sự biến đổi nghĩa tố nội tại (sự phân rã cấu trúc nghĩa, hiện tượng thừa nghĩa và trừu tượng hóa nghĩa).
- Lý giải bản chất tính đa chức năng và tính cơ động của giới từ tiếng Việt: Luận chứng rằng hiện tượng kiêm chức năng và khả năng xuất hiện/tỉnh lược của giới từ là hệ quả trực tiếp của phương thức chuyển hóa lịch sử chưa đoạn tuyệt hoàn toàn với cơ chế nghĩa gốc.
- Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy: Sự phát triển từ không gian cụ thể đến quan hệ trừu tượng phản ánh tiến trình nhận thức và tư duy phân tích của người sử dụng tiếng Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng tiêu chí phân định chức năng rõ ràng: Cung cấp bộ tiêu chí ngữ nghĩa - cú pháp để phân biệt ranh giới giữa thực từ, phó từ và giới từ trong phân tích văn bản.
- Ứng dụng trong dạy học tiếng Việt: Đề xuất quy trình phân tích và tạo lập câu phức hợp, hỗ trợ việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh bản ngữ và người nước ngoài.
- Ứng dụng trong biên soạn từ điển và giám định văn bản: Đóng góp cơ sở lý thuyết cho việc biên soạn các mục từ hư từ trong từ điển học và cung cấp cứ liệu ngôn ngữ lịch sử phục vụ xác định niên đại văn bản Nôm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về tư liệu lịch sử: Luận án chỉ có thể khảo sát ngữ liệu lịch sử chữ Nôm từ thế kỷ 15 trở đi do sự hạn chế về số lượng và tính nguyên vẹn của các văn bản văn vần trước thế kỷ 10.
- Phạm vi khảo sát từ ngữ: Đề tài tập trung chuyên sâu vào một số nhóm từ chỉ hướng, vị trí, sở hữu, ban phát mà chưa bao quát toàn bộ tất cả các hư từ chuyển hóa khác trong tiếng Việt.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát cơ chế chuyển hóa sang các nhóm liên từ, trợ từ tình thái và nghiên cứu đối chiếu liên ngôn ngữ với các ngôn ngữ đơn lập trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên ngôn ngữ học: Cung cấp khung phân tích cụ thể về ngữ pháp lịch sử, ngữ nghĩa học và ngữ pháp chức năng tiếng Việt.
- Đối với người dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Giúp giải thích bản chất của các kết cấu có/không có giới từ (bàn gỗ / bàn bằng gỗ) và cách sử dụng các từ chuyển loại phức tạp (về, đến, cho, ở).
- Đối với các nhà từ điển học: Cung cấp cơ sở phân biệt các tiểu mục từ loại của cùng một hình thức từ vựng trong các cuốn từ điển tường giải tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nguyên nhân chính dẫn đến sự hư hóa của thực từ là gì?
Sự hư hóa bắt nguồn từ việc sử dụng thực từ vào vị trí thành tố phụ sau một vị từ chính trong cấu trúc câu ($V_1 - V_2 - B$). Sự kết hợp này tạo nên hiện tượng lặp hoặc thừa nghĩa tố, khiến nghĩa tố từ vựng cụ thể của từ bị triệt tiêu dần, chỉ giữ lại nghĩa chỉ hướng hoặc quan hệ cú pháp trừu tượng.
2. Sự chuyển hóa của từ "về" qua các giai đoạn lịch sử diễn ra như thế nào?
Thế kỷ 15 (Quốc âm thi tập), từ "về" 100% là động từ chỉ vận động. Đến thế kỷ 16 - 17 (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Alexandre de Rhodes), "về" bắt đầu xuất hiện thêm chức năng phó từ chỉ hướng không gian và thời gian. Đến tiếng Việt hiện đại, "về" phát triển hoàn chỉnh chức năng giới từ biểu thị quan hệ đối tượng/nội dung tư duy trừu tượng.
3. Giới từ tiếng Việt có những đặc trưng riêng biệt nào so với các ngôn ngữ khác?
Giới từ tiếng Việt có hai đặc trưng nổi bật: (1) Được hình thành trực tiếp từ sự chuyển hóa của các thực từ (động từ, danh từ); (2) Tồn tại song song hai dạng biến thể trong cùng một nội dung thông báo: biến thể có dùng giới từ và biến thể lược bỏ giới từ.
4. Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận án là gì?
(1) Phân tích cơ chế biến đổi ngữ nghĩa nội tại gắn với chuyển đổi chức năng cú pháp; (2) Xác định các phương thức và bước chuyển tiếp trong tiến trình hư hóa; (3) Xác định các tiền đề và nhân tố tác động; (4) Lý giải hiện tượng ngữ pháp trên cơ sở ngữ nghĩa nhằm nêu bật đặc trưng loại hình ngôn ngữ đơn lập.
5. Tiêu chí nào được luận án sử dụng để phân biệt giới từ với liên từ và trợ từ?
Giới từ biểu thị quan hệ cú pháp chính - phụ, kết nối trung tâm với thành phần phụ và có xu hướng gắn chặt với thành phần phụ ($A - q - B$ hoặc $q - B$). Ngược lại, liên từ nối kết các vế đẳng lập và đứng độc lập trung hòa, còn trợ từ chuyên đi kèm thành phần phụ để bổ sung sắc thái tình thái và thường đứng sau thành phần được bổ nghĩa.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Văn Thi là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế chuyển hóa thực từ thành giới từ trong tiếng Việt dưới góc độ kết hợp ngữ nghĩa và cú pháp học lịch sử. Bằng việc phân tích các ngữ liệu trải dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20, tác giả đã chứng minh quá trình hư hóa là một chuỗi biến đổi liên tục từ ý nghĩa từ vựng cụ thể sang ý nghĩa ngữ pháp trừu tượng thông qua hiện tượng thừa nghĩa trong cấu trúc câu. Công trình không chỉ đóng góp luận cứ quan trọng làm sáng tỏ đặc trưng loại hình của tiếng Việt đơn lập mà còn mang lại giá trị thực tiễn thiết thực cho công tác giảng dạy ngôn ngữ và biên soạn từ điển.