Phương Thức Chiếu Vật Trong Tác Phẩm Tô Hoài - Luận Văn Tốt Nghiệp

Chuyên khảo phân tích Lv nv 0956010793 nguyenthikieuhoa 4546, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

81
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHIẾU VẬT VÀ PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT

2.1. Khái niệm chiếu vật

2.2. Điều kiện để thực hiện chiếu vật

2.3. Chiếu vật trong diễn ngôn và ngoài diễn ngôn

2.3.1. Chiếu vật trong diễn ngôn

2.3.2. Chiếu vật ngoài diễn ngôn

2.4. Phương thức chiếu vật

2.4.1. Khái niệm phương thức chiếu vật

2.4.2. Quan điểm của một số tác giả về phương thức chiếu vật

2.4.2.1. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu
2.4.2.2. Quan điểm của Diệp Quang Ban
2.4.2.3. Quan điểm của Nguyễn Qúy Thành
2.4.2.4. Quan điểm của Nguyễn Thị Ngọc Điệp- Nguyễn Thị Hồng Nam- Nguyễn Thị Thu Thủy
2.4.2.5. Quan điểm của Đỗ Việt Hùng

3. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT TRONG TÁC PHẨM TÔ HOÀI

3.1. Vài nét về nhà văn Tô Hoài

3.2. Sự nghiệp sáng tác

3.3. Phong cách nghệ thuật

3.4. Khảo sát phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài

3.4.1. Chiếu vật bằng tên riêng

3.4.2. Chiếu vật bằng danh ngữ

3.4.3. Chiếu vật bằng từ xưng hô

4. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ SỬ DỤNG PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT TRONG TÁC PHẨM TÔ HOÀI

4.1. Mảng truyện về loài vật

4.1.1. Phương thức chiếu vật bằng tên riêng

4.1.2. Phương thức chiếu vật bằng từ xưng hô

4.1.3. Phương thức chiếu vật bằng danh ngữ

4.2. Truyện về cuộc sống nông thôn

4.2.1. Phương thức chiếu vật bằng tên riêng

4.2.2. Phương thức chiếu vật bằng từ xưng hô

4.2.3. Phương thức chiếu vật bằng danh ngữ

4.3. Truyện về miền núi

4.3.1. Phương thức chiếu vật bằng tên riêng

4.3.2. Phương thức chiếu vật bằng từ xưng hô

4.3.3. Phương thức chiếu vật bằng danh ngữ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài

Phương thức chiếu vật là một khái niệm quan trọng trong ngữ dụng học, đặc biệt trong việc phân tích tác phẩm văn học. Tô Hoài, một trong những nhà văn lớn của Việt Nam, đã sử dụng phương thức này một cách tài tình để thể hiện nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Việc nghiên cứu phương thức chiếu vật không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm của Tô Hoài mà còn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và nghệ thuật viết văn.

1.1. Khái niệm chiếu vật và vai trò trong văn học

Chiếu vật được hiểu là hành vi người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ để chỉ rõ sự vật, hành động mà mình muốn đề cập. Trong văn học, chiếu vật giúp tạo ra hình ảnh rõ nét về nhân vật và bối cảnh, từ đó làm nổi bật nội dung tác phẩm.

1.2. Tô Hoài và những đóng góp trong văn học Việt Nam

Tô Hoài không chỉ là một nhà văn mà còn là một người có tầm nhìn sâu sắc về cuộc sống. Ông đã để lại nhiều tác phẩm nổi bật, trong đó phương thức chiếu vật được sử dụng để thể hiện rõ nét tâm tư, tình cảm của nhân vật và bối cảnh xã hội.

II. Những thách thức trong việc phân tích phương thức chiếu vật

Việc phân tích phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài gặp nhiều thách thức. Đầu tiên là sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Thứ hai, việc xác định đúng các phương thức chiếu vật cần có sự hiểu biết sâu sắc về ngữ cảnh và bối cảnh văn hóa. Cuối cùng, việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn cũng đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế.

2.1. Đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ

Tô Hoài sử dụng nhiều phương thức chiếu vật khác nhau, từ tên riêng đến danh ngữ, điều này tạo ra sự phong phú cho tác phẩm nhưng cũng làm cho việc phân tích trở nên phức tạp.

2.2. Yêu cầu về kiến thức ngữ cảnh

Để phân tích chính xác phương thức chiếu vật, cần phải hiểu rõ về bối cảnh lịch sử, văn hóa mà tác phẩm ra đời. Điều này giúp người phân tích có cái nhìn sâu sắc hơn về ý nghĩa của các biểu thức chiếu vật.

III. Phương pháp phân tích phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài

Để phân tích phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài, có thể áp dụng một số phương pháp như phân tích ngữ nghĩa, so sánh và đối chiếu. Những phương pháp này giúp làm rõ giá trị nghệ thuật và nội dung mà tác giả muốn truyền tải qua các phương thức chiếu vật.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa của các biểu thức chiếu vật

Phân tích ngữ nghĩa giúp xác định rõ ràng các biểu thức chiếu vật trong tác phẩm, từ đó làm nổi bật ý nghĩa mà Tô Hoài muốn truyền tải.

3.2. So sánh và đối chiếu các phương thức chiếu vật

So sánh và đối chiếu giữa các tác phẩm của Tô Hoài giúp nhận diện được phong cách riêng của tác giả trong việc sử dụng phương thức chiếu vật, từ đó làm rõ giá trị nghệ thuật của từng tác phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài

Phương thức chiếu vật không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Việc hiểu rõ phương thức này giúp sinh viên và người nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm, từ đó nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học.

4.1. Giá trị trong giảng dạy văn học

Việc giảng dạy phương thức chiếu vật giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách thức tác giả xây dựng hình ảnh và nội dung trong tác phẩm, từ đó nâng cao khả năng phân tích văn học.

4.2. Tăng cường khả năng cảm thụ văn học

Nghiên cứu phương thức chiếu vật giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về tâm tư, tình cảm của nhân vật, từ đó tạo ra sự kết nối mạnh mẽ giữa tác phẩm và người đọc.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu phương thức chiếu vật

Nghiên cứu phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài không chỉ giúp làm rõ giá trị nghệ thuật của tác giả mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học sau này. Tương lai, việc áp dụng các lý thuyết ngữ dụng học vào phân tích văn học sẽ ngày càng trở nên phổ biến và cần thiết.

5.1. Tóm tắt giá trị nghiên cứu

Nghiên cứu phương thức chiếu vật đã làm nổi bật được sự tài tình trong nghệ thuật viết của Tô Hoài, đồng thời khẳng định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu văn học

Tương lai, việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại vào phân tích văn học sẽ giúp mở rộng hiểu biết về các tác phẩm, từ đó làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phân biệt sự vật được chiếu vật và nghĩa. Sao Hôm (Evening Star) và Sao Mai (Morning Star) tuy cùng quy chiếu một sự vật (Sao Kim theo thuật ngữ thiên văn học) nhưng có nghĩa khác nhau. Những nhà triết học lớn cho rằng tên riêng không có nghĩa. Nhưng nếu tên riêng không có nghĩa, nó sẽ mất luôn khả năng chiếu vật.

Bất cứ tên riêng nào theo quy tắc đặt tên, tự chúng đã mang những gợi ý về thế giới khả hữu - hệ quy chiếu của nó. Thế giới khả hữu – hệ quy chiếu là bộ phận cơ sở tạo nên nghĩa của tên riêng tuân thủ các quy tắc sau: - Mỗi loại sự vật được chiếu vật có kiểu tên riêng đặc trưng : tên người khác tên con vật, khác tên quốc gia, dân tộc, tên sông, tên núi,… - Qua hình thức tên riêng, chúng ta xác định được thế giới khả hữu nào đang được nói đến, loại bỏ được những sự vật không tương thích với kiểu đặt tên đó. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 9 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài Yếu tố từ vựng trong tên riêng Việt Nam có thể đóng vai trò chỉ dẫn về thế giới khả hữu. Ví dụ, nếu tên riêng là Mực thì chúng ta nhận biết ngay sự vật là chó, tên là Mun, Mướp thì biết ngay là mèo, còn tên Ô thì biết ngay là ngựa,…Thêm vào đó, trong phát ngôn các tên riêng thường ít xuất hiện một mình.

Nó thường có các danh từ chung đi kèm như nước Nhật, ông Nhật. Đặc biệt tên người Việt Nam phải kèm theo cả họ, tiếng đệm (Thị, Văn, Minh), tên lót (Mộng, Thúy, Kiều, Thành) và trong phát ngôn Việt Nam, thường có các từ chỉ chức danh đi trước, kể cả các từ thân tộc như chú Nam, anh Hoàng,…hoặc ít nhất phải có các từ như thằng, con,…. Chiếu vật trong diễn ngôn và chiếu vật ngoài diễn ngôn 1. Chiếu vật trong diễn ngôn Theo Đỗ Hữu Châu, “Chỉ xuất trong diễn ngôn (trong văn bản) là chỉ xuất sự vật đang được nói tới trong một lời nói, một phát ngôn theo việc nó đã được nói đến trong tiền văn hay có sẽ được nói tới trong hậu văn hay không”.85] Chiếu vật trong diễn ngôn là chiếu vật theo lối thay thế.

Biểu thức chiếu vật đang được nói tới trong một phát ngôn được dùng để thay thế cho sự vật đã được nói trước trong tiền văn hoặc sẽ được nói tới trong hậu văn. Chúng ta cùng xét ví dụ sau: Lớp bàn về khuyết điểm của Nam trong học tập. Về điều ấy, tôi có ý kiến như thế này: Nam đã tỏ ra không tôn trọng tập thể. Biểu thức “điều ấy” thay thế cho biểu thức chiếu vật “khuyết điểm của Nam trong học tập” đã được nói ở tiền văn.

Biểu thức này có tính chất hồi chỉ. Biểu thức “như thế này” thay thế cho điều sẽ được nói ở sau: Nam đã tỏ ra không tôn trọng tập thể. Biểu thức này có tính chất khứ chỉ. Sự vật được chỉ xuất trong diễn ngôn thường nằm trong ý thức của những người giao tiếp trong một cuộc giao tiếp.

Việc dùng từ “ấy” vốn là từ định vị không gian khách quan để tạo nên các biểu thức ngôi thứ ba: cái ấy, vật ấy, người ấy, ông ấy, bà ấy,… có nguyên do là ở đây. Theo Diệp Quang Ban, quy chiếu đến văn bản là thiết lập mối quan hệ về mặt nghĩa giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản. Cách quy chiếu này được gọi là quy chiếu đến văn bản hay quy chiếu nội GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 10 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài hướng. Vì nó giúp tích hợp được câu này với câu khác sao cho cả hai cùng nhau làm thành một bộ phận của chính văn bản đó.

Vì vậy, quy chiếu nội hướng được coi như một tiêu chuẩn của liên kết. Nói cách khác, sự quy chiếu nội hướng thiết lập mối quan hệ giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia trong cùng một văn bản để cho thấy những câu chứa chúng có liên kết với nhau. Hãy xét ví dụ sau: Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vƣơng, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị, như tâm hồn của tất cả mọi người thời xưa. Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng.

Tuy thế ngƣời trai làng Phù Đổng vẫn còn ăn một bữa cơm. Trong ví dụ trên, ba yếu tố định danh: một trang nam nhi, tráng sĩ ấy, người trai làng Phù Đổng cùng quy chiếu về yếu tố định danh Phù Đổng Thiên Vương. Nhờ đó mà các bộ phận văn bản chứa ba tên gọi sau liên kết chặt chẽ được với bộ phận chứa Phù Đổng Thiên Vương và tất cả bốn bộ phận đang xét liên kết được với nhau. Yếu tố định danh Phù Đổng Thiên Vương là yếu tố (có tác dụng) giải thích (được tiền giả định), ba yếu tố định danh còn lại là những yếu tố được giải thích (chứa tiền giả định).

Theo Diệp Quang Ban, quy chiếu đến văn bản được thực hiện dưới hai dạng cơ bản là hồi chiếu (còn gọi là hồi chỉ) và khứ chiếu (còn gọi là khứ chỉ). Hồi chiếu là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau. Vì vậy, muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải quay trở lại với yếu tố giải thích nằm trong phần lời đã nói trước đó, tức là tham khảo ở phần lời đã có trước yếu tố được giải thích. Ví dụ: 1) Bữa ăn ấy Huệ không dám ngồi với chúng tôi.

Người đàn bà địa vị kém cỏi ấy không rời ra khỏi xó bếp. Vì chắc chị ta tự xét chỉ xứng đáng với nơi hèn ấy mà thôi. Trong ví dụ đang xét, tồn tại hai trường hợp quy chiếu. Cả hai đều thuộc dạng hồi chiếu, có thể minh họa như sau: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 11 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài Yếu tố giải thích Yếu tố đƣợc giải thích Huệ người đàn bà địa vị kém cỏi ấy chị ta Xó bếp nơi hèn ấy Khứ chiếu là trường hợp yếu tố được giải thích xuất hiện trước, yếu tố giải thích xuất hiện sau.

Muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải tiến tới, đi sâu vào phần lời tiếp theo để tìm hiểu yếu tố giải thích, tức là tham khảo ở phần lời xuất hiện sau yếu tố được giải thích. Ví dụ: 2) Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. (Chí Phèo, Nam Cao) Yếu tố đƣợc giải thích Yếu tố giải thích hắn Chí Phèo 1.

Quy chiếu ngoài diễn ngôn Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Quy chiếu trước hết là thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ chỉ vật với vật được gọi bằng từ ngữ đó, cũng tức là đưa tên gọi vật đến với vật được gọi tên ở ngoài ngôn ngữ”.142] Cũng theo Diệp Quang Ban, tên gọi ở đây không chỉ được diễn đạt bằng một danh từ mà có thể là đại từ hoặc bằng cả cụm từ. Vì vậy, khi cần thiết có thể dùng yếu tố định danh để chỉ tên gọi vật, việc. Vật có tên gọi quy chiếu đến được gọi là vật chiếu. Hãy xét các ví dụ sau: 1) Bên cạnh ta có cái ghế.

Ta chỉ tay vào nó, hay ta nhìn nó, hay ta ngụ ý về nó, và ta nói cái ghế này còn tốt lắm, tức là ta đã quy chiếu tổ hợp từ cái ghế này với tư cách yếu tố định danh đến cái ghế đang chỉ ở đây, với tư cách cái được gọi tên, vật chiếu. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 12 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài 2) Hai người bạn cùng đi chơi về một vùng quê. Một người hỏi: Đây thuộc về xã nào nhỉ ? Người bạn ấy đã dùng từ đây (chỉ định từ) quy chiếu về nơi mà họ đang có mặt ở đó. Suy rộng ra, có thể quy chiếu những điều nói trong câu, trong văn bản đến với những sự vật, sự việc nằm ngoài câu, ngoài văn bản, cũng tức là những cái nằm trong tình huống ngoài ngôn ngữ.

Cách quy chiếu như thế được gọi là quy chiếu đến tình huống hay quy chiếu ngoại hướng. Quy chiếu đến tình huống là nhân tố quan trọng đối với việc hiểu văn bản, mặc dù văn bản còn chịu sự quy định, chi phối từ nhiều phương diện khác. Đối với việc hiểu văn bản, sự quy chiếu đến tình huống là quan trọng, nhưng việc liên kết các bộ phận trong văn bản lại với nhau thì lại là phần việc của quy chiếu đến văn bản hay quy chiếu nội hướng. Phƣơng thức chiếu vật 1.

Khái niệm phƣơng thức chiếu vật Theo Đại cương ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu: “Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật. Chúng cũng là những con đường mà người nghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được”.64] Theo Ngữ dụng học của Đỗ Việt Hùng: “Cách thức mà người phát dựa vào đó để xây dựng biểu thức ngôn ngữ chiếu vật được gọi là phương thức chiếu vật”[10; tr.31] Trong giáo trình Ngữ dụng học của Nguyễn Thị Thu Thủy: “Phương thức chiếu vật là cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để thực hiện hành vi chiếu vật”. Quan điểm của một số tác giả về phƣơng thức chiếu vật. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu.

Theo tác giả, có ba phương thức chiếu vật lớn: dùng tên riêng, dùng miêu tả xác định và dùng chỉ xuất. - Dùng tên riêng Hai cách sử dụng chính của tên riêng: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 13 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài + Sử dụng trong chức năng xưng hô. Ví dụ: bạn Hồng, anh Nam,… + Sử dụng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ. Ví dụ: “ Xem triển lãm Tô Ngọc Vân”.

Tô Ngọc Vân là họa sĩ, ở đây được dùng để chỉ các tác phẩm hội họa do ông sáng tác. - Biểu thức miêu tả Để giúp cho người nghe (người đọc) dễ dàng suy ra nghĩa chiếu vật cá thể của một biểu thức chiếu vật không phải là tên riêng nào đó, người nói (viết) thường dùng biện pháp miêu tả để tạo ra các biểu thức miêu tả chiếu vật. Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương Thức Chiếu Vật Trong Tác Phẩm Tô Hoài" khám phá cách mà nhà văn Tô Hoài sử dụng các phương thức chiếu vật để tạo nên những hình ảnh sống động và sâu sắc trong tác phẩm của mình. Bài viết không chỉ phân tích các kỹ thuật nghệ thuật mà Tô Hoài áp dụng, mà còn chỉ ra cách mà những phương thức này góp phần làm nổi bật chủ đề và cảm xúc trong các câu chuyện của ông. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật kể chuyện và cách mà Tô Hoài đã khéo léo kết hợp giữa hiện thực và hư cấu để tạo ra những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật trong các tác phẩm văn học Việt Nam, hãy tham khảo Luận văn thạc sĩ thế giới nghệ thuật trong sáng tác của tô hoài thời kì trước cách mạng tháng tám, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu hơn về bối cảnh sáng tác của Tô Hoài. Bên cạnh đó, Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn tô hoài sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để phát triển nhân vật trong các tác phẩm của ông. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn tô hoài sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố cấu thành tác phẩm, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về nghệ thuật văn chương của Tô Hoài.