Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học với đề tài "Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài" do sinh viên Nguyễn Thị Kiều Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Nguyễn Thị Ngọc Điệp tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (Hậu Giang, năm 2013). Đề tài thuộc hướng nghiên cứu liên ngành giữa Ngữ dụng học (Pragmatics) và Ngôn ngữ văn học, tập trung khảo sát các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt hành vi chiếu vật trong văn bản nghệ thuật.
Tác giả trình bày ba lý do chính dẫn đến việc lựa chọn đề tài:
- Tô Hoài là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, sở hữu khối lượng tác phẩm phong phú với nhiều đóng góp độc đáo cho nền văn chương dân tộc; việc nghiên cứu tác phẩm của ông mang tính thiết thực và bổ ích.
- Xuất phát từ sự yêu thích tác phẩm của Tô Hoài, việc khảo sát giúp người nghiên cứu nâng cao vốn hiểu biết về từ vựng, các biện pháp nghệ thuật nói chung và phương thức chiếu vật nói riêng.
- Ngữ dụng học tuy đã phát triển lâu năm trên thế giới nhưng tại thời điểm nghiên cứu vẫn là một chuyên ngành tương đối mới mẻ và lý thú tại Việt Nam; việc tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc độ chiếu vật giúp vận dụng kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn văn bản cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định qua hai nội dung:
- Nâng cao hiểu biết về tính đa dạng và phong phú của tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp nghệ thuật.
- Làm rõ sự khéo léo của Tô Hoài trong việc sử dụng các phương thức chiếu vật, từ đó góp phần làm nổi bật giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương thức chiếu vật được sử dụng trong văn bản truyện của Tô Hoài.
- Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Do giới hạn thời gian và năng lực nghiên cứu, tác giả thu hẹp khảo sát trong phạm vi 27 tác phẩm thuộc tập Tô Hoài - truyện ngắn chọn lọc và 3 tác phẩm thuộc Tuyển tập Tô Hoài.
- Phạm vi thời gian và địa bàn: Khóa luận được hoàn thành vào năm 2013 tại tỉnh Hậu Giang, dựa trên nguồn tài liệu tra cứu tại Thư viện Thành phố Cần Thơ và tư liệu chuyên ngành Ngữ dụng học.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề được tác giả hệ thống hóa thành hai nhóm công trình:
- Nhóm công trình về lý thuyết chiếu vật trong ngữ dụng học: Gồm các nghiên cứu tiêu biểu của Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học), Đỗ Việt Hùng (Ngữ dụng học), nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp – Nguyễn Thị Hồng Nam – Nguyễn Thị Thu Thủy (Ngữ dụng học), Nguyễn Quý Thành (Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu học), Nguyễn Thiện Giáp (Dụng học Việt ngữ), Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San (Tiếng Việt tập 3), Diệp Quang Ban (Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt).
- Nhóm công trình nghiên cứu về tác gia Tô Hoài: Các tài liệu của Phong Lê – Vân Thanh (Tô Hoài, về tác gia và tác phẩm), Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức (Nhà văn Việt Nam 1945-1975), Phong Lê (20 nhà văn, nhà văn hóa Việt thế kỉ XX), Mai Thị Nhung (Phong cách nghệ thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài), Phan Cự Đệ (Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên lý thuyết Ngữ dụng học, trọng tâm là lý thuyết về hành vi chiếu vật (reference) và các biểu thức chiếu vật. Tác giả tổng hợp các định nghĩa học thuật từ Green, Từ điển Longman, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo. Theo đó, chiếu vật được hiểu là hành vi mà người nói sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để giúp người nghe nhận biết và quy chiếu đúng sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc tính trong thực tế khách quan mà diễn ngôn đề cập tới.
Về điều kiện thực hiện sự chiếu vật, khóa luận đối chiếu quan điểm của John Searle và Đỗ Hữu Châu. Searle đưa ra điều kiện về sự tồn tại "duy nhất" (một và chỉ một sự vật ứng với biểu thức). Tuy nhiên, Đỗ Hữu Châu đã điều chỉnh luận điểm này: nghĩa chiếu vật có thể là một cá thể, một số hoặc toàn bộ một loại sự vật; do đó điều kiện tiên quyết là "phải tồn tại một hoặc những sự vật trong thế giới khả hữu mà người nói chọn làm hệ quy chiếu cho diễn ngôn của mình". Khái niệm thế giới khả hữu (possible worlds) được sử dụng để giải quyết "nghịch lí tồn tại" trong câu phủ định siêu ngôn ngữ (như "Thiên đường không tồn tại").
Về môi trường chiếu vật, văn bản phân định hai bình diện:
- Chiếu vật trong diễn ngôn (nội chỉ/quy chiếu nội hướng): Thực hiện bằng cơ chế thay thế, liên kết các yếu tố ngôn ngữ cùng nằm trong văn bản. Bao gồm hồi chiếu/hồi chỉ (yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau) và khứ chiếu/khứ chỉ (yếu tố được giải thích xuất hiện trước, yếu tố giải thích xuất hiện sau).
- Chiếu vật ngoài diễn ngôn (ngoại chỉ/quy chiếu ngoại hướng): Thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ chỉ vật với vật được gọi tên ngoài ngôn ngữ, gắn liền với tình huống giao tiếp cụ thể.
Để làm rõ hệ thống phương thức chiếu vật, khóa luận lập bảng tổng thuật quan điểm phân loại của các nhà nghiên cứu:
| Tác giả |
Hệ thống phân loại phương thức chiếu vật |
| Đỗ Hữu Châu |
3 phương thức lớn: Dùng tên riêng; Dùng miêu tả xác định; Dùng chỉ xuất (ngôi/xưng hô, không gian, thời gian). |
| Diệp Quang Ban |
3 phương thức quy chiếu: Quy chiếu chỉ ngôi; Quy chiếu chỉ định; Quy chiếu so sánh. |
| Nguyễn Quý Thành |
3 phương thức: Dùng tên riêng; Dùng biểu thức miêu tả; Dùng chỉ xuất (đại từ nhân xưng, từ chỉ vị trí, từ chỉ thời gian). |
| Nguyễn Thị Ngọc Điệp – Nguyễn Thị Hồng Nam – Nguyễn Thị Thu Thủy |
4 phương thức cơ bản: Chiếu vật bằng danh từ riêng; Chiếu vật bằng danh ngữ (có phụ tố miêu tả, hạn định hoặc chỉ định); Chiếu vật bằng từ xưng hô; Chiếu vật bằng đại từ chỉ định và thay thế. |
| Đỗ Việt Hùng |
Phân chia thành chiếu vật ngoại chỉ (tên riêng, miêu tả, định vị ngôi/không gian/thời gian) và chiếu vật nội chỉ (hồi chỉ, khứ chỉ). |
Dựa trên sự tổng hợp này, tác giả chọn khảo sát 3 phương thức chiếu vật cơ bản trong sáng tác của Tô Hoài:
- Phương thức chiếu vật bằng danh từ riêng (tên riêng).
- Phương thức chiếu vật bằng danh ngữ.
- Phương thức chiếu vật bằng từ xưng hô.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng các phương pháp:
- Phương pháp hệ thống: Nhằm hệ thống hóa các quan điểm lý luận về ngữ dụng học và tổng quan nghiên cứu về tác gia Tô Hoài.
- Phương pháp phân tích: Phân tích ngữ cảnh, cấu trúc biểu thức ngôn ngữ và giá trị biểu đạt của các phương thức chiếu vật.
- Phương pháp liệt kê: Thống kê, trích dẫn các dẫn chứng cụ thể từ 30 tác phẩm khảo sát.
- Các thao tác bổ trợ: Chứng minh và so sánh ngữ nghĩa trong từng trường hợp phát ngôn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Lý thuyết về chiếu vật và phương thức chiếu vật
Nội dung chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận của ngữ dụng học về chiếu vật. Tác giả trình bày định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học về bản chất của hành vi chiếu vật, phân tích mối quan hệ giữa nghĩa từ vựng (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm) và nghĩa chiếu vật trong phát ngôn cụ thể. Tiếp đó, tác giả luận giải điều kiện thực hiện chiếu vật dựa trên việc xác lập hệ quy chiếu và thế giới khả hữu, phân tích quy tắc tạo nghĩa của tên riêng (tên người, tên vật, tên địa danh kèm các hư từ, từ chỉ loại, từ xưng tộc). Chương này cũng đi sâu làm rõ cơ chế chiếu vật nội chỉ (hồi chỉ, khứ chỉ) đóng vai trò liên kết văn bản và chiếu vật ngoại chỉ định vị theo tình huống thực tế. Cuối chương, tác giả đối chiếu quan điểm của 5 nhóm học giả để xác lập mô hình khảo sát thực nghiệm cho khóa luận gồm ba phương thức: tên riêng, danh ngữ và từ xưng hô.
Chương 2. Khảo sát phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài
Chương 2 gồm hai phần lớn: khái quát về tác gia Tô Hoài và khảo sát thực tế các phương thức chiếu vật trong ngữ liệu.
Ở phần thứ nhất, tác giả tóm lược tiểu sử Tô Hoài (tên thật Nguyễn Sen, sinh ngày 07/09/1920 tại Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông). Tác giả tổng thuật sự nghiệp sáng tác hơn 60 năm với hơn 175 đầu sách, trong đó có hơn 60 tác phẩm thiếu nhi, trải rộng trên bốn mảng đề tài: vùng quê ngoại thành Hà Nội, miền núi Tây Bắc - Việt Bắc, sáng tác thiếu nhi, và chân dung hồi ức. Tác giả ghi nhận các giải thưởng lớn của Tô Hoài: Giải nhất tiểu thuyết Hội Văn nghệ Việt Nam (1956, Truyện Tây Bắc), Giải thưởng Hội Nhà văn Á - Phi (1970, Miền Tây), Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội (1980, Quê nhà), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1, 1996), và Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội (2010). Đồng thời, chương 2 chỉ ra các đặc điểm phong cách nghệ thuật: không gian nghệ thuật tập trung (ngoại thành Hà Nội và miền núi), lối viết đậm đà màu sắc dân tộc, quan sát tinh tế, hóm hỉnh và biệt tài sử dụng ngôn ngữ đời sống quần chúng.
Ở phần thứ hai, tác giả phân loại và khảo sát các phương thức chiếu vật xuất hiện trong các tác phẩm:
- Chiếu vật bằng tên riêng:
- Chiếu vật chỉ người: Xuất hiện dày đặc trong lời người kể chuyện (Quê người: Ngây, Bướm, Mơ, Lụa; Miền Tây: Giàng Súa, Mỵ, Nhìa, Khay; Nhà nghèo: Duyện, cái Gái; Buổi chiều ở trong nhà: Hối, Thằng Bang, cái Hiệu; Vợ chồng trẻ con: cu Phúc, cái Ngói; Đồng chí Hùng Vương: Nông Văn Pảo, Tư, Hùng Vương; Tội làng: Kể, bác Năm;...).
- Chiếu vật chỉ con vật: Khảo sát tiêu biểu trong Dế Mèn phiêu lưu kí với sự cá thể hóa qua tên loài vật viết hoa (Dế Choắt, Nhện mẹ, Nhện con, chị Nhà Trò, Cóc, Ễnh Ương, Chẫu Chàng, Nhái Bén, Ếch Cốm, Rắn Mòng, Châu Chấu, Cào Cào, Bọ Muỗm, Kiến Lửa, Bướm Vàng, Dế Trũi, Chuồn Chuồn Chúa,...).
- Tên riêng kết hợp danh từ chung chỉ chức danh, vai vế: cán bộ Nghĩa, chủ tịch Tỏa, cụ Châu Chấu, võ sĩ Dế Trũi, thống lí Pá Tra, du kích Sinh.
- Chiếu vật chỉ sự vật, địa danh: sông Lịch, ấp Hồ, núi Nhá Súi, Mèo Vạc, Hồng Ngài, Nậm Cắt, Chống Chia, sông Đà, Phìn Sa, Nà Lộc, Bản Hậu, Pá Pầu, Mường Cơi, Mường Vạt, Mường La.
- Chiếu vật bằng danh ngữ: Xuất hiện chủ yếu dưới dạng danh ngữ có định tố miêu tả hoặc chỉ định, thực hiện chức năng hồi chỉ trong ngôn ngữ trần thuật để biểu thị thái độ đánh giá: "Cái thằng phải gió ấy" (Nhà nghèo), "Cái báo chướng ấy" (Chớp bể mưa nguồn), "Cái thằng mèo mướp ốm bệnh hen cò cử quanh năm mà không chết ấy" (O chuột), "lão nặc nô này" (Khách nợ), "Bọn cá chậu chim lồng ấy" (Dế Mèn phiêu lưu kí), "Cái bóng người cao cao mặc áo tấc trắng...".
- Chiếu vật bằng từ xưng hô: Khảo sát hệ thống đại từ và danh từ xưng hô trong cả ngôn ngữ trần thuật lẫn đối thoại:
- Đại từ xưng hô: tôi, thằng cu, gã, ả (Ông giăng không biết nói); y (O chuột); mụ (Mụ ngan); chúng nó (Chớp bể mưa nguồn); mày - tao (Vợ chồng A Phủ); tớ - đằng ấy (Buổi chiều ở trong nhà); tôi - em - chúng mình (Lụa).
- Danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ: ông chủ tịch, đồng chí Pàng (Miền Tây).
- Danh từ thân tộc được đại từ hóa: bác - em (Dế Mèn phiêu lưu kí); thày u - con, ông bà - cháu, cô - con tôi (Lụa); chị - em, cậu - mợ (Quê người); ông - mày (Ông giăng không biết nói, Vợ chồng trẻ con); chú - tôi (Vỡ tỉnh); mợ phán - mẹ - con (Bóng đè).
- Danh từ vay mượn gốc Hán: Sử dụng để tạo sắc thái hài hước, trang trọng giả tạo trong đối thoại giữa các con vật ở Dế Mèn phiêu lưu kí (nhị vị tráng sĩ, bản thôn, tiên sinh, bỉ phu, trẫm).
Chương 3. Giá trị sử dụng phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài
Theo kết cấu của luận văn, chương 3 đi sâu làm rõ nghệ thuật sử dụng phương thức chiếu vật thông qua việc phân tích giá trị biểu đạt cụ thể trên ba mảng đề tài sáng tác của Tô Hoài:
- Mảng truyện về loài vật: Phân tích cách nhà văn dùng tên riêng (nhân hóa tên loài), danh ngữ miêu tả đặc điểm sinh học và từ xưng hô (kết hợp từ thân tộc và từ Hán Việt) để xây dựng thế giới đồng thoại sinh động, phản chiếu các quan hệ xã hội của con người.
- Mảng truyện về cuộc sống nông thôn: Phân tích việc dùng tên riêng dân dã, danh ngữ miêu tả mang tính chất đánh giá và khẩu ngữ xưng hô thân tộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm lột tả hiện thực nghèo khó, cảnh ngộ lam lũ và tâm lý của người nông dân trước Cách mạng.
- Mảng truyện về miền núi: Khảo sát tên riêng địa danh, nhân vật dân tộc thiểu số, từ xưng hô mang sắc thái văn hóa vùng cao Tây Bắc, qua đó phản ánh cuộc sống áp bức dưới ách chúa đất phong kiến và sự đổi đời của đồng bào khi đi theo kháng chiến, xây dựng cuộc sống mới.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đạt được các kết quả cụ thể:
- Khảo sát và phân loại chi tiết các biểu thức chiếu vật trong 30 tác phẩm truyện của Tô Hoài, minh chứng cho sự vận dụng linh hoạt của ba phương thức: tên riêng, danh ngữ và từ xưng hô.
- Thống kê các dạng thức kết hợp ngôn ngữ đặc trưng của Tô Hoài:
- Dạng kết hợp tên riêng với danh từ chỉ loại, danh từ thân tộc hoặc chức vị (cán bộ Nghĩa, chủ tịch Tỏa, võ sĩ Dế Trũi, thống lí Pá Tra).
- Danh ngữ hồi chỉ mang tính thẩm mỹ và cảm xúc, thể hiện điểm nhìn trần thuật sắc sảo, hóm hỉnh hoặc xót xa trước số phận con người (Cái thằng phải gió ấy, Cái báo chướng ấy).
- Hệ thống từ xưng hô đa tầng, từ đại từ nhân xưng thông tục (mày - tao, gã, y, mụ), danh từ thân tộc được lâm thời đại từ hóa (thày u, cậu mợ, chị em), đến các từ ngữ Hán Việt cổ kính (nhị vị tráng sĩ, tiên sinh, bỉ phu, trẫm).
Bảng tổng hợp đặc điểm các phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài theo kết quả khảo sát:
| Phương thức chiếu vật |
Dạng thức biểu hiện chính |
Ngữ cảnh xuất hiện |
Tác dụng nghệ thuật |
| Chiếu vật bằng tên riêng |
Tên người (tên tục, tên ghép), tên loài vật viết hoa, tên riêng kết hợp chức danh, tên địa danh. |
Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại. |
Định danh cá thể chính xác; cá thể hóa nhân vật và thế giới loài vật; gợi không gian văn hóa đặc thù. |
| Chiếu vật bằng danh ngữ |
Danh ngữ có phụ tố miêu tả, danh ngữ có định tố chỉ định (này, kia, ấy, nọ). |
Ngôn ngữ trần thuật (chức năng hồi chỉ liên kết văn bản). |
Bộc lộ thái độ, cảm xúc, đánh giá chủ quan của người trần thuật đối với nhân vật và sự việc. |
| Chiếu vật bằng từ xưng hô |
Đại từ xưng hô chuyên dụng; danh từ thân tộc; chức danh xã hội; từ xưng hô gốc Hán. |
Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật và ngôn ngữ độc thoại/kể chuyện. |
Phản ánh chính xác quan hệ giai tầng, vị thế xã hội, tính cách nhân vật và tạo sắc thái hài hước hoặc kịch tính. |
Đóng góp tự nêu của khóa luận:
- Về mặt lý thuyết: Vận dụng lý thuyết ngữ dụng học hiện đại để giải mã cấu trúc ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật, chứng minh khả năng ứng dụng thực tiễn của lý thuyết chiếu vật trong phân tích văn học.
- Về mặt thực tiễn văn học: Khám phá tài năng ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật của Tô Hoài từ giác độ ngữ dụng học, bổ sung một góc nhìn chuyên sâu bên cạnh các công trình nghiên cứu thi pháp học và phê bình văn học truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi tư liệu khảo sát còn hẹp: Do giới hạn về thời gian và kiến thức của sinh viên thực hiện, khóa luận mới chỉ khảo sát được 30 tác phẩm (gồm 27 truyện ngắn trong tập Tô Hoài - truyện ngắn chọn lọc và 3 tác phẩm trong Tuyển tập Tô Hoài), chưa bao quát hết toàn bộ di sản đồ sộ hơn 175 đầu sách của nhà văn.
- Nội dung khảo sát mới chỉ tập trung sâu vào ba phương thức cơ bản (tên riêng, danh ngữ, từ xưng hô), chưa đi sâu khai thác trọn vẹn các phương thức chiếu vật định vị không gian và định vị thời gian vốn rất đặc sắc trong mảng ký và tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài.
Hướng nghiên cứu mở rộng được rút ra từ phạm vi đề tài:
- Mở rộng ngữ liệu khảo sát trên các thể loại khác của Tô Hoài như hồi ký, bút ký (Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chuyện cũ Hà Nội) và tiểu thuyết (Mười năm, Quê nhà, Miền Tây).
- Thực hiện so sánh đối chiếu phương thức chiếu vật của Tô Hoài với các tác gia văn xuôi hiện thực cùng thời như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng để làm nổi bật nét độc đáo trong phong cách cá nhân của từng nhà văn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Văn học, Ngôn ngữ học và Sư phạm Ngữ văn: Cung cấp mô hình phân tích ngôn ngữ học ứng dụng trên văn bản văn xuôi nghệ thuật; làm tài liệu tham khảo cụ thể về cách triển khai đề tài khóa luận liên ngành.
- Người nghiên cứu về tác gia Tô Hoài: Tài liệu cung cấp hệ thống dẫn chứng phân loại chi tiết về ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ trần thuật của Tô Hoài trên cả ba mảng đề tài (đồng thoại loài vật, nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, miền núi Tây Bắc).
- Người nghiên cứu chuyên đề Ngữ dụng học tiếng Việt: Đóng góp một nguồn ngữ liệu thực nghiệm phong phú về hành vi chiếu vật, biểu thức chỉ xuất, quy chiếu nội chỉ/ngoại chỉ và cơ chế giải quyết nghịch lý tồn tại trong tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận căn cứ vào cơ sở lý luận nào để lựa chọn các phương thức khảo sát chiếu vật?
Tác giả đã tổng thuật và đối chiếu quan điểm của 5 nhà nghiên cứu/nhóm tác giả lớn gồm Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Quý Thành, Đỗ Việt Hùng và nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp – Nguyễn Thị Hồng Nam – Nguyễn Thị Thu Thủy. Trên cơ sở tiếp thu khung lý thuyết ngữ dụng học tiếng Việt, tác giả chọn 3 phương thức phổ biến và đặc trưng nhất để khảo sát tác phẩm Tô Hoài gồm: chiếu vật bằng tên riêng, chiếu vật bằng danh ngữ và chiếu vật bằng từ xưng hô.
2. Dung lượng ngữ liệu thực tế được tác giả khảo sát trong đề tài là bao nhiêu?
Khóa luận tiến hành khảo sát trên 30 tác phẩm văn xuôi của Tô Hoài, trong đó có 27 tác phẩm rút từ tập Tô Hoài - truyện ngắn chọn lọc và 3 tác phẩm rút từ Tuyển tập Tô Hoài. Ngữ liệu bao hàm các tác phẩm tiêu biểu như Dế Mèn phiêu lưu kí, Vợ chồng A Phủ, Miền Tây, Quê người, Nhà nghèo, O chuột, Lụa, Chớp bể mưa nguồn, Buổi chiều ở trong nhà, Vợ chồng trẻ con.
3. Tác giả giải quyết vấn đề "nghịch lí tồn tại" trong lý thuyết chiếu vật như thế nào?
Dẫn theo phân tích của Đỗ Hữu Châu về nghịch lý tồn tại của Bertrand Russell và John Searle (khi phát ngôn câu "Thiên đường không tồn tại"), tác giả khẳng định sự vật được chiếu vật trước hết phải tồn tại trong ý thức người nói và nằm trong một "thế giới khả hữu" (hệ quy chiếu) mà người nói lựa chọn cho diễn ngôn của mình (kể cả thế giới tưởng tượng, tín ngưỡng). Khi bác bỏ sự tồn tại của sự vật, người nói đã dịch chuyển hệ quy chiếu của phát ngôn.
4. Giá trị của các phương thức chiếu vật được tác giả chứng minh qua những mảng đề tài nào trong sáng tác của Tô Hoài?
Ở chương 3, tác giả phân chia ngữ liệu khảo sát thành ba mảng đề tài chính để phân tích giá trị biểu đạt:
- Mảng truyện về thế giới loài vật (tiêu biểu là Dế Mèn phiêu lưu kí).
- Mảng truyện về cuộc sống nông thôn vùng ngoại thành Hà Nội trước Cách mạng.
- Mảng truyện về đề tài miền núi Tây Bắc trong kháng chiến và hòa bình.
5. Những nhóm từ xưng hô nào được Tô Hoài vận dụng để thực hiện hành vi chiếu vật trong tác phẩm?
Văn bản khóa luận chỉ ra 4 nhóm phương tiện từ ngữ xưng hô được Tô Hoài khai thác:
- Đại từ xưng hô chuyên dụng (tôi, tao, mày, nó, hắn, y, thị, chúng nó, tớ, đằng ấy).
- Danh từ thân tộc được đại từ hóa (thày u, ông bà, chị em, cậu mợ, bác cháu).
- Danh từ chỉ chức vụ, quan hệ xã hội (ông chủ tịch, đồng chí).
- Danh từ xưng hô vay mượn gốc Hán (nhị vị tráng sĩ, tiên sinh, bỉ phu, trẫm).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Kiều Hoa là công trình nghiên cứu nghiêm túc, vận dụng chặt chẽ lý thuyết Ngữ dụng học vào việc giải mã văn bản văn học của tác gia Tô Hoài. Tác giả đã hệ thống hóa các quan niệm lý luận về hành vi chiếu vật, đồng thời khảo sát công phu các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt qua ba phương thức: tên riêng, danh ngữ và từ xưng hô trên ngữ liệu 30 tác phẩm chọn lọc. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự tài hoa, tinh tế của Tô Hoài trong việc sử dụng ngôn ngữ đời sống để khắc họa tính cách nhân vật và bối cảnh xã hội, đóng góp một tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho sinh viên và người nghiên cứu chuyên ngành Ngữ văn.