đặt vấn đề phân biệt sự vật được chiếu vật và nghĩa. Sao Hôm (Evening Star) và Sao Mai (Morning Star) tuy cùng quy chiếu một sự vật (Sao Kim theo thuật ngữ thiên văn học) nhưng có nghĩa khác nhau. Những nhà triết học lớn cho rằng tên riêng không có nghĩa. Nhưng nếu tên riêng không có nghĩa, nó sẽ mất luôn khả năng chiếu vật.
Bất cứ tên riêng nào theo quy tắc đặt tên, tự chúng đã mang những gợi ý về thế giới khả hữu - hệ quy chiếu của nó. Thế giới khả hữu – hệ quy chiếu là bộ phận cơ sở tạo nên nghĩa của tên riêng tuân thủ các quy tắc sau: - Mỗi loại sự vật được chiếu vật có kiểu tên riêng đặc trưng : tên người khác tên con vật, khác tên quốc gia, dân tộc, tên sông, tên núi,… - Qua hình thức tên riêng, chúng ta xác định được thế giới khả hữu nào đang được nói đến, loại bỏ được những sự vật không tương thích với kiểu đặt tên đó. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 9 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài Yếu tố từ vựng trong tên riêng Việt Nam có thể đóng vai trò chỉ dẫn về thế giới khả hữu. Ví dụ, nếu tên riêng là Mực thì chúng ta nhận biết ngay sự vật là chó, tên là Mun, Mướp thì biết ngay là mèo, còn tên Ô thì biết ngay là ngựa,…Thêm vào đó, trong phát ngôn các tên riêng thường ít xuất hiện một mình.
Nó thường có các danh từ chung đi kèm như nước Nhật, ông Nhật. Đặc biệt tên người Việt Nam phải kèm theo cả họ, tiếng đệm (Thị, Văn, Minh), tên lót (Mộng, Thúy, Kiều, Thành) và trong phát ngôn Việt Nam, thường có các từ chỉ chức danh đi trước, kể cả các từ thân tộc như chú Nam, anh Hoàng,…hoặc ít nhất phải có các từ như thằng, con,…. Chiếu vật trong diễn ngôn và chiếu vật ngoài diễn ngôn 1. Chiếu vật trong diễn ngôn Theo Đỗ Hữu Châu, “Chỉ xuất trong diễn ngôn (trong văn bản) là chỉ xuất sự vật đang được nói tới trong một lời nói, một phát ngôn theo việc nó đã được nói đến trong tiền văn hay có sẽ được nói tới trong hậu văn hay không”.85] Chiếu vật trong diễn ngôn là chiếu vật theo lối thay thế.
Biểu thức chiếu vật đang được nói tới trong một phát ngôn được dùng để thay thế cho sự vật đã được nói trước trong tiền văn hoặc sẽ được nói tới trong hậu văn. Chúng ta cùng xét ví dụ sau: Lớp bàn về khuyết điểm của Nam trong học tập. Về điều ấy, tôi có ý kiến như thế này: Nam đã tỏ ra không tôn trọng tập thể. Biểu thức “điều ấy” thay thế cho biểu thức chiếu vật “khuyết điểm của Nam trong học tập” đã được nói ở tiền văn.
Biểu thức này có tính chất hồi chỉ. Biểu thức “như thế này” thay thế cho điều sẽ được nói ở sau: Nam đã tỏ ra không tôn trọng tập thể. Biểu thức này có tính chất khứ chỉ. Sự vật được chỉ xuất trong diễn ngôn thường nằm trong ý thức của những người giao tiếp trong một cuộc giao tiếp.
Việc dùng từ “ấy” vốn là từ định vị không gian khách quan để tạo nên các biểu thức ngôi thứ ba: cái ấy, vật ấy, người ấy, ông ấy, bà ấy,… có nguyên do là ở đây. Theo Diệp Quang Ban, quy chiếu đến văn bản là thiết lập mối quan hệ về mặt nghĩa giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản. Cách quy chiếu này được gọi là quy chiếu đến văn bản hay quy chiếu nội GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 10 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài hướng. Vì nó giúp tích hợp được câu này với câu khác sao cho cả hai cùng nhau làm thành một bộ phận của chính văn bản đó.
Vì vậy, quy chiếu nội hướng được coi như một tiêu chuẩn của liên kết. Nói cách khác, sự quy chiếu nội hướng thiết lập mối quan hệ giữa yếu tố ngôn ngữ này với yếu tố ngôn ngữ kia trong cùng một văn bản để cho thấy những câu chứa chúng có liên kết với nhau. Hãy xét ví dụ sau: Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vƣơng, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị, như tâm hồn của tất cả mọi người thời xưa. Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng.
Tuy thế ngƣời trai làng Phù Đổng vẫn còn ăn một bữa cơm. Trong ví dụ trên, ba yếu tố định danh: một trang nam nhi, tráng sĩ ấy, người trai làng Phù Đổng cùng quy chiếu về yếu tố định danh Phù Đổng Thiên Vương. Nhờ đó mà các bộ phận văn bản chứa ba tên gọi sau liên kết chặt chẽ được với bộ phận chứa Phù Đổng Thiên Vương và tất cả bốn bộ phận đang xét liên kết được với nhau. Yếu tố định danh Phù Đổng Thiên Vương là yếu tố (có tác dụng) giải thích (được tiền giả định), ba yếu tố định danh còn lại là những yếu tố được giải thích (chứa tiền giả định).
Theo Diệp Quang Ban, quy chiếu đến văn bản được thực hiện dưới hai dạng cơ bản là hồi chiếu (còn gọi là hồi chỉ) và khứ chiếu (còn gọi là khứ chỉ). Hồi chiếu là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau. Vì vậy, muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải quay trở lại với yếu tố giải thích nằm trong phần lời đã nói trước đó, tức là tham khảo ở phần lời đã có trước yếu tố được giải thích. Ví dụ: 1) Bữa ăn ấy Huệ không dám ngồi với chúng tôi.
Người đàn bà địa vị kém cỏi ấy không rời ra khỏi xó bếp. Vì chắc chị ta tự xét chỉ xứng đáng với nơi hèn ấy mà thôi. Trong ví dụ đang xét, tồn tại hai trường hợp quy chiếu. Cả hai đều thuộc dạng hồi chiếu, có thể minh họa như sau: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 11 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài Yếu tố giải thích Yếu tố đƣợc giải thích Huệ người đàn bà địa vị kém cỏi ấy chị ta Xó bếp nơi hèn ấy Khứ chiếu là trường hợp yếu tố được giải thích xuất hiện trước, yếu tố giải thích xuất hiện sau.
Muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải tiến tới, đi sâu vào phần lời tiếp theo để tìm hiểu yếu tố giải thích, tức là tham khảo ở phần lời xuất hiện sau yếu tố được giải thích. Ví dụ: 2) Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. (Chí Phèo, Nam Cao) Yếu tố đƣợc giải thích Yếu tố giải thích hắn Chí Phèo 1.
Quy chiếu ngoài diễn ngôn Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Quy chiếu trước hết là thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ chỉ vật với vật được gọi bằng từ ngữ đó, cũng tức là đưa tên gọi vật đến với vật được gọi tên ở ngoài ngôn ngữ”.142] Cũng theo Diệp Quang Ban, tên gọi ở đây không chỉ được diễn đạt bằng một danh từ mà có thể là đại từ hoặc bằng cả cụm từ. Vì vậy, khi cần thiết có thể dùng yếu tố định danh để chỉ tên gọi vật, việc. Vật có tên gọi quy chiếu đến được gọi là vật chiếu. Hãy xét các ví dụ sau: 1) Bên cạnh ta có cái ghế.
Ta chỉ tay vào nó, hay ta nhìn nó, hay ta ngụ ý về nó, và ta nói cái ghế này còn tốt lắm, tức là ta đã quy chiếu tổ hợp từ cái ghế này với tư cách yếu tố định danh đến cái ghế đang chỉ ở đây, với tư cách cái được gọi tên, vật chiếu. GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 12 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài 2) Hai người bạn cùng đi chơi về một vùng quê. Một người hỏi: Đây thuộc về xã nào nhỉ ? Người bạn ấy đã dùng từ đây (chỉ định từ) quy chiếu về nơi mà họ đang có mặt ở đó. Suy rộng ra, có thể quy chiếu những điều nói trong câu, trong văn bản đến với những sự vật, sự việc nằm ngoài câu, ngoài văn bản, cũng tức là những cái nằm trong tình huống ngoài ngôn ngữ.
Cách quy chiếu như thế được gọi là quy chiếu đến tình huống hay quy chiếu ngoại hướng. Quy chiếu đến tình huống là nhân tố quan trọng đối với việc hiểu văn bản, mặc dù văn bản còn chịu sự quy định, chi phối từ nhiều phương diện khác. Đối với việc hiểu văn bản, sự quy chiếu đến tình huống là quan trọng, nhưng việc liên kết các bộ phận trong văn bản lại với nhau thì lại là phần việc của quy chiếu đến văn bản hay quy chiếu nội hướng. Phƣơng thức chiếu vật 1.
Khái niệm phƣơng thức chiếu vật Theo Đại cương ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu: “Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật. Chúng cũng là những con đường mà người nghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được”.64] Theo Ngữ dụng học của Đỗ Việt Hùng: “Cách thức mà người phát dựa vào đó để xây dựng biểu thức ngôn ngữ chiếu vật được gọi là phương thức chiếu vật”[10; tr.31] Trong giáo trình Ngữ dụng học của Nguyễn Thị Thu Thủy: “Phương thức chiếu vật là cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để thực hiện hành vi chiếu vật”. Quan điểm của một số tác giả về phƣơng thức chiếu vật. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu.
Theo tác giả, có ba phương thức chiếu vật lớn: dùng tên riêng, dùng miêu tả xác định và dùng chỉ xuất. - Dùng tên riêng Hai cách sử dụng chính của tên riêng: GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Điệp 13 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Hoa Phương thức chiếu vật trong tác phẩm Tô Hoài + Sử dụng trong chức năng xưng hô. Ví dụ: bạn Hồng, anh Nam,… + Sử dụng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ. Ví dụ: “ Xem triển lãm Tô Ngọc Vân”.
Tô Ngọc Vân là họa sĩ, ở đây được dùng để chỉ các tác phẩm hội họa do ông sáng tác. - Biểu thức miêu tả Để giúp cho người nghe (người đọc) dễ dàng suy ra nghĩa chiếu vật cá thể của một biểu thức chiếu vật không phải là tên riêng nào đó, người nói (viết) thường dùng biện pháp miêu tả để tạo ra các biểu thức miêu tả chiếu vật. Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với chúng.