Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Các công trình nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Về phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Ngay từ thời Cổ đại, các nhà giáo dục phương Đông, phương Tây đều quan tâm đến người học và hình thức học tập. Nhận thức được tầm quan trọng của học tập theo nhóm nên những tư tưởng dạy học mang tính hợp tác nhóm đã hình thành rất sớm.
Với suy nghĩ điều gì cũng đáng học đặc biệt là học từ những người xung quanh, học bạn bè, Khổng Tử (551-479 TCN) đã khẳng định: “trong ba người đi tất có một người là thầy ta” [78, tr. Điều đó cho thấy ông đã đề cao sự tương tác giữa người dạy với người học, giữa người học với người học, đồng thời cho rằng, việc chủ động tìm tòi tri thức tất yếu sẽ dẫn đến sự hợp tác, trao đổi, tranh luận giữa người học với nhau, qua đó học hỏi lẫn nhau nhiều vấn đề trong bầu không khí thoải mái nhất. Với tinh thần “nhận thức chính mình”, nhà triết học Hy Lạp Socrat (469-399 TCN) cho rằng người học tự tìm ra chân lý từ những cuộc đàm thoại. Đây được coi là biện chứng pháp (Socrates dialectics) hay nghệ thuật tranh luận Socrat.
Nói cách khác, tranh luận, tọa đàm, luận chiến là con đường chiếm lĩnh tri thức. Phương pháp này được chia thành 4 giai đoạn: mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định [129]. Biện chứng pháp Socrat đòi hỏi con người muốn hành động đúng trước hết phải nhận thức đúng, muốn nhận thức đúng phải biết nội hàm khái niệm và muốn định nghĩa khái niệm đúng thì không còn cách nào ngoài sự tranh luận. Socrat đánh giá rất cao vai trò của sự tranh luận trong tìm tòi và khám phá tri thức.
Sau này, nhà nghiên cứu giáo dục Robert J. Marzand trong cuốn "Nghệ thuật và khoa học dạy học" khẳng định cần sử dụng chiến thuật tranh luận trong quá trình giảng dạy để làm tăng thêm 7 tính hào hứng cho các hoạt động trong lớp học. Để thực hiện có hiệu quả bước hành động này, người dạy cần phải cẩn trọng trong lựa chọn các vấn đề để có thể tiến hành một cuộc tranh luận thân thiện trong quá trình tìm kiếm giá trị chân thực [88]. Như vậy, tuy không bàn đến TLN nhưng các tác giả đều đề cập đến tranh luận – một trong những yếu tố quan trọng khi tiến hành TLN.
Lịch sử giáo dục La Mã Cổ đại đã ghi nhận cống hiến của nhà giáo dục Marco Fabio Quintilian (42-118) với cuốn sách nổi tiếng có tên là “Luận về thuật hùng biện” trong đó nghiên cứu nhiều vấn đề về giáo dục và có rất nhiều tư tưởng tiến bộ. Ông cho rằng dạy học không phải là sự cưỡng ép mà phải làm thế nào để họ vui vẻ học tập. Giảng dạy cần phải thay đổi hình thức và đưa ra nhiều ví dụ. Người học sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu [78, tr.
Cách tiếp cận của Marco Fabio Quintilian có rất nhiều điểm tương đồng với mục tiêu mà PPTLN hướng tới cũng như ý nghĩa của nó trong hoạt động học tập. Thời kỳ Phục hưng, nhà giáo dục J. Cô-men-xki (1592-1670) được coi là thủy tổ của nền giáo dục dân chủ đã phản đối cách dạy theo lối thuộc lòng, nhồi sọ người học và tin tưởng rằng người học sẽ có lợi từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè [78]. Xác định được tầm quan trọng của việc học tập theo nhóm, vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, lý thuyết học tập hợp tác nhóm được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước tư bản – nơi chủ nghĩa cá nhân và tự do cạnh tranh được đề cao.
Georg Michael Kerschenteiner (1854-1932) – nhà giáo dục học người Đức đánh giá rất cao vai trò của việc hợp tác trong nhóm. Ông cho rằng GV hoàn toàn có thể áp dụng hình thức học tập tự quản theo nhóm để phát triển tính cách của người học, khơi dậy tinh thần trách nhiệm cá nhân trong lương tâm mỗi con người đối với cộng đồng, loại bỏ những hành động do động cơ ích kỷ đối với nhóm khác [153, tr. Ở Mỹ, dạy học hợp tác được ứng dụng từ cuối thế kỷ XIX, điển hình là Fancis Parker. Ông đã đưa ra lý thuyết về học tập hợp tác, nhấn mạnh động lực của quá trình học tập cũng như các hoạt động khác chính là sự chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau khiến cho người học có niềm vui, sự động viên khích lệ.
Là một nhà giáo tiên phong trong hệ thống giáo dục Pháp, R. Cousinet 8 (1881-1973) - người chịu ảnh hưởng tư tưởng giáo dục là một phương thức để xã hội hóa và nhà trường là một môi trường mà trẻ có thể sống đã khẳng định làm việc chung theo nhóm là giải pháp thỏa đáng về mặt sư phạm, người học phải tìm tòi, thực hiện khảo cứu hay quan sát, cố gắng phân tích, tìm hiểu, diễn đạt, đóng góp sự tìm tòi của mình cho công việc của nhóm. Thông qua hoạt động nhóm sẽ hình thành cho người học thói quen tự giác không cần sự giám sát của GV, hòa hợp với cộng đồng, biết xấu hổ với các bạn trong trong nhóm khi tham gia không tích cực, tránh sự lơ là, sao nhãng, loại bỏ sự lười biếng và luôn tự ý thức về bản thân. Điều này cho thấy việc tiến hành hoạt động nhóm là điều kiện quan trọng trong việc khẳng định mình của mỗi cá nhân trong học tập, tạo tiền đề cho sự trưởng thành về phương diện xã hội [17], [116].
Đánh giá được tầm quan trọng của học tập hợp tác, Albert Bandura đã đưa ra lý thuyết học tập mang tính xã hội với nội dung chính là khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy họ thành công hơn, sức mạnh tập thể cũng sẽ được phát huy khi giải quyết những nhiệm vụ theo nhóm [153]. Với lý thuyết “giải quyết mâu thuẫn”, Jean Piaget cho rằng người dạy cần đặt người học vào những tình huống làm xuất hiện những quan điểm mâu thuẫn, trên cơ sở đó, GV sắp những cặp SV có quan điểm đối lập trong cách giải quyết vấn đề thành một nhóm và yêu cầu từng cặp hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí thì mới đi đến kết luận của bài học. Công việc này thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học, kích thích sự tìm tòi, sáng tạo trong giải quyết vấn đề. Lý thuyết trên được tiếp tục tiến hành thông qua công trình nghiên cứu về xung đột nhận thức – xã hội và cho thấy sự phát triển nhận thức của SV phụ thuộc rất nhiều vào sự giao lưu xã hội, quá trình học tập sẽ hiệu quả hơn khi SV trao đổi với nhau về những điều mình học [78].
Dạy học theo nhóm được áp dụng rộng rãi ở các nước phương Tây vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở mặt thử nghiệm về tổ chức mà chưa có một mô hình và lý thuyết nền tảng. Đến những năm 60, sự nghiên cứu được tiến hành một cách sâu sắc hơn. Lý thuyết của Rogers đã quan tâm đến việc tác động đến cá nhân qua nhóm nhỏ với tinh thần tạo môi trường thuận lợi, thích hợp cho sự đối thoại giữa thầy giáo và học sinh, giữa học sinh với 9 nhau và rút ngắn khoảng cách xã hội bằng cách lắng nghe nhau, trao đổi về những vấn đề học tập [65, tr.
Từ những năm 80 trở lại đây, việc nghiên cứu vấn đề này được đẩy mạnh ở các nước Tây Âu. Các nghiên cứu của Brown và Palinscar, Rosenshine, Meister, Slavin, Renkl tập trung vào xây dựng mô hình và chiến lược dạy học theo nhóm. Brown và Palinscar cho rằng dạy học theo nhóm cải thiện rõ rệt cách tư duy của học sinh và nội dung nhận thức vấn đề mà họ tranh luận. Theo đó, cần xây dựng phương pháp dạy lẫn nhau mà ở đó GV và học sinh thay phiên nhau đóng vai người dạy.
GV phân chia thành những nhóm nhỏ, mọi người trong nhóm vừa là người dạy, vừa là người học. Những học sinh trong vai trò người dạy sẽ đặt câu hỏi, nêu vấn đề học tập và kết luận những nội dung học tập trong nhóm mình. Các thành viên khác của nhóm tham gia thảo luận, nêu ra các câu hỏi, trả lời, bình luận. Vai trò của các thành viên được thay đổi luân phiên [159, tr.Việc hợp tác, theo Slavin, nhằm tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên [166].
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của dạy học theo nhóm là tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên. Trong công trình nghiên cứu về học cùng nhau và học độc lập; học hợp tác, học tranh đua và học cá nhân, các tác giả David W.Johnson và Roger T. Johnson đã cho rằng học cá nhân và học tranh đua không phù hợp dẫn đến tính tự mãn, ích kỷ, thất vọng và tự ti. Điều đó dễ dẫn đến sự phát triển không lành mạnh về sức khỏe và tâm lý.
Từ đó, các tác giả kết luận dạy học theo nhóm có vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ bạn bè, tăng cường động cơ học tập, sự trao đổi thông tin, phát triển năng lực tư duy và kỹ năng xã hội. Như vậy, dạy học theo nhóm bộc lộ rõ tính ưu việt nhưng trong thực tiễn lại ít khi được sử dụng hơn so với kiểu học cá nhân và tranh đua [71]. Trong cuốn “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác”, các tác giả Jean Marc Denomme và Madeleine Roy khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố chính trong hoạt động sư phạm là người học, người dạy và môi trường đã nhận thấy người học mong muốn thực hiện cùng một việc học ở trong một nhóm dưới sự hướng dẫn của người dạy [25, tr. Mặc dù các tác giả không nghiên cứu một cách cụ thể về TLN nhưng trong phương pháp sư phạm tương tác đã thể hiện 10 được nhiều nội dung của vấn đề này như sự hợp tác giữa người dạy với người học, giữa những người học với nhau trong quá trình học tập.