mở đầu cho hiện tƣợng là một đất nƣớc bị thôn tính về mặt lãnh thổ, khuất phục về mặt chính trị nhƣng lại đồng hóa đƣợc kẻ xâm lƣợc bằng những giá trị văn hóa của mình. Triết học của thời kỳ này không còn sôi nổi nhƣ thời kỳ trƣớc nữa. Lúc này, đứng trƣớc thời cuộc rối ren, các triết gia bàng quan, lảng tránh những vấn đề trung tâm của triết học mà hƣớng vào thế giới bên trong chìm đắm với những suy tƣ về định mệnh, ngập chìm trong đời sống tình cảm, những ham muốn,… Sự suy tàn của triết học cổ đại đã bắt đầu, cái chết đã đƣợc báo trƣớc bằng sự ra đời của Cơ Đốc giáo (Christainisme) ngay trên mảnh đất này, mà lúc đó ngƣời Hy lạp gọi bằng cái tên Khristos. Bƣớc vào thế kỷ thứ IX - VII Tr.
CN nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cực kỳ phát triển. Đó cũng là thời kỳ mà Hy Lạp cổ đại đang cùng nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Nền sản xuất phát triển, quan hệ tiền - hàng đƣợc đẩy mạnh làm cho thƣơng mại và trao đổi hàng hóa đƣợc tăng cƣờng. Lúc này ngƣời Hy Lạp đã có thể đóng đƣợc những chiến thuyền lớn cho phép họ vƣợt nghìn trùng biển khơi, qua biển Địa Trung Hải tìm đến những miền đất mới.
Nhờ đó lãnh thổ Hy Lạp và thuộc địa của nó ngày một mở rộng, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế, xã hội, tƣ tƣởng, văn hóa trong nƣớc và giao lƣu với nƣớc ngoài. Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến các quan hệ và tổ chức xã hội cũ bị đảo lộn. Khi mà xã hội còn tồn tại dƣới hình thức nguyên thủy nhƣ bộ lạc, bộ tộc,… thì tổ chức xã hội còn mang tính cộng đồng cao, cuộc sống của mỗi cá nhân hầu nhƣ hoàn toàn “hòa tan” vào cuộc sống cộng đồng. Nhƣng giờ đây, khi sản xuất phát triển, diễn ra sự phân công lao động, của cải dƣ thừa thì trong xã hội nảy sinh các ham muốn chiếm hữu và sau đó là các chế độ tƣ hữu về của cải.
Điều kiện đó buộc mỗi cá nhân phải ý thức và suy nghĩ hơn cho bản thân mình, cần có một lập trƣờng, lối sống riêng phù hợp với hoàn cảnh mới. Nhu cầu đó đòi hỏi sự ra đời của triết học, giúp con ngƣời không chỉ biết tuân theo nề nếp sẵn có, mà còn phê phán những giá trị chuẩn mực xã hội cũ, đồng thời xây dựng một nền tảng thế giới quan mới. Điều đó đã đƣợc Socrate lần đầu tiên nhận thấy khi coi triết học chính là sự tự ý thức của con ngƣời về chính bản thân mình. Quá trình phân công lao động phát triển cho phép trong xã hội xuất hiện tầng lớp những ngƣời chuyên sống bằng lao động trí óc càng tạo điều kiện nảy sinh các tƣ tƣởng triết học.
Ngay từ khi ra đời, các tƣ tƣởng triết học, lôgíc học đã mang tính giai cấp sâu sắc. Là thế giới quan của giai cấp chủ nô, các tri thức triết học dần dần trở thành các tƣ tƣởng thống trị trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Mác và Ăngghen nhận xét: “Trong mọi thời đại, những tƣ tƣởng của giai cấp thống trị là những tƣ tƣởng thống trị … giai cấp nào chi phối những tƣ liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tƣ liệu sản xuất tinh thần. Những tƣ tƣởng thống trị … chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị … đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tƣ tƣởng” [21, 66-67].
Tuy nhiên, những tƣ tƣởng triết học ở thời cổ vẫn còn mang tính tự phát, chúng không đƣợc các triết gia cổ đại ý thức một cách tự giác. Dƣới con mắt của họ, triết học ra đời từ nhu cầu hiểu biết của con ngƣời. Aristotle phản ánh quan niệm đó: “Chính sự ngạc nhiên đã thức tỉnh mọi ngƣời triết lý. Lúc đầu họ ngạc nhiên bởi những điều trực tiếp làm cho họ băn khoăn, sau đó họ dần dần đặt ra 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những vấn đề cơ bản hơn, chẳng hạn nhƣ về sự thay đổi vị trí của mặt trăng, mặt trời và các vì sao, và cả về nguồn gốc vũ trụ” [trích theo 61, 148].
Nhƣ những phần trên đã phân tích, ta thấy rõ điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội làm cơ sở nảy sinh những tƣ tƣởng triết học, lôgíc học. Triết học thời cổ đại bao gồm nhiều bộ môn chuyên ngành: Đạo đức học, thẩm mĩ học, lôgíc học, triết học tự nhiên, … Qua quá trình phát triển từ thời cổ đại tự bản thân nó đã hình thành nên những chuyên ngành nhƣ vậy, trong đó lôgíc học là ngành luôn luôn “kề vai sát cánh” cùng triết học và đóng một vai trò rất quan trọng làm công cụ nhận thức, lập luận cho những suy tƣ, lập luận triết học. Những tƣ tƣởng lôgíc học sinh ra do những nhu cầu của bản thân triết học, ra đời song song với triết học. Ở thời kỳ cực thịnh, các nhà triết học bắt đầu quan tâm đến phƣơng pháp nhận thức, phƣơng pháp nghiên cứu phục vụ cho các lý thuyết, quan điểm, công trình nghiên cứu của mình.
Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của triết học Hy Lạp cổ đại, thời kỳ sản sinh ra những tên tuổi lớn, làm rạng danh nền văn hóa Hy Lạp: Dèmocrite, Socrate, Platon, Aristotle, … Trong các tƣ tƣởng của các ông, tƣ tƣởng về phƣơng pháp quy nạp đã là những tƣ tƣởng cơ bản, sơ khai, đặt nền móng cho sự hoàn thiện tƣ tƣởng về phƣơng pháp quy nạp sau này. Những tư tưởng cơ bản về phương pháp quy nạp thời kỳ cổ đại Quy nạp với tƣ cách là một phƣơng pháp nhận thức khoa học đã xuất hiện trong triết học cổ đại Hy Lạp. Nhƣng cụ thể là ai đã đặt ra vấn đề này đầu tiên thì khó có thể trả lời chính xác. Nhiều ý kiến cho rằng ngƣời đầu tiên đƣa ra vấn đề này là Socrate (469 - 399 tr.
CN) và Dèmocrite (460 - 370 tr. Trong “Siêu hình học” Aristotle đã viết: “Công bằng mà nói thì có hai vấn đề thuộc về công lao của Socrate - lập luận quy nạp và sự hình thành các định nghĩa chung: Trong cả hai trƣờng hợp đều nói về khởi nguyên của tri thức” [trích theo 30, 26]. Theo Socrate thì quy nạp là một quá trình vận động của tƣ duy nhƣ sau: Đầu tiên đƣa ra một định nghĩa thử về một khái niệm chung nào đó (ví dụ “lòng dũng cảm”, “đức hạnh”,…), sau đó xem xét các ví dụ khác nhau trong sự sử dụng chúng và dùng các ví dụ cụ thể hàng ngày để chứng minh 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng. Phƣơng pháp quy nạp ở ông luôn gắn liền với học thuyết về bản chất của tri thức đạo đức ẩn kín bên trong điều khiển mọi hành vi của con ngƣời.
Vì vậy phƣơng pháp quy nạp có nhiệm vụ giải thích một cách hợp lý và vạch ra những chuẩn mực đạo đức đó. Mặc dù coi quy nạp có một chức năng nhận thức quan trọng, song theo ông thì những lập luận quy nạp không có khả năng tạo ra đƣợc những kết luận chân thực một cách tất yếu. Từ đó, Socrate cho rằng, chân lý đạo đức, nếu có, thì nó có tính bẩm sinh. Dèmocrite là ngƣời đầu tiên đƣa ra phƣơng pháp chứng minh quy nạp nhờ các thông số kinh nghiệm.
Ông đề cao nhận thức kinh nghiệm, cảm tính, mở đƣờng cho phƣơng pháp quy nạp - kinh nghiệm của Epicure sau này. CN) - nhà triết học cổ đại Hy Lạp, học trò của Socrate, không hạn chế việc xem xét vấn đề quy nạp chỉ trong khuôn khổ của tri thức đạo đức, mà rộng hơn - trực tiếp gắn quy nạp với các phƣơng pháp xây dựng khoa học, nhƣ là một hệ thống tri thức trọn vẹn duy nhất. Platon giải quyết vấn đề quy nạp dựa trên học thuyết bản thể luận của mình, học thuyết về hai thế giới. Theo Platon thì quá trình nhận thức khoa học diễn ra theo hai con đƣờng: 1) Con đƣờng từ dƣới lên trên: Lý tính đi từ tri giác cảm tính về những cái đầu tiên, đặt khái niệm có tính chung ít hơn dƣới những khái niệm có tính chung nhiều hơn, “cái đa dạng” dƣới “cái thống nhất”.
2) Con đƣờng từ trên xuống dƣới: Lý tính đi từ “những cái đầu tiên” hoặc “những giống cao nhất” đến “các loài”, chia “giống” thành các “loài”. Tuy Platon không đặt tên cho hai con đƣờng nhận thức trên là “quy nạp” và “diễn dịch”, nhƣng theo nhiều nhà phân tích thì thực chất đó là hai phƣơng pháp cơ bản của tƣ duy khoa học: Quy nạp và diễn dịch. Con đƣờng từ dƣới lên trên là quy nạp, con đƣờng từ trên xuống dƣới là diễn dịch. Theo nhận thức luận của Platon thì không nên hiểu phƣơng pháp quy nạp là phƣơng pháp khái quát các tài liệu của tri giác cảm tính và nhận thức kinh nghiệm thành những khái niệm chung.
Ông cho rằng trong quá trình nhận thức, kinh nghiệm, nhận thức cảm tính chỉ đóng vai trò là “đòn bẩy”, đánh thức dậy hoạt động hồi tƣởng của linh hồn - làm cho linh hồn nhớ lại các ý niệm đã tồn 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tại từ trƣớc mà thôi. Mặc dù thừa nhận tính cần thiết của quy nạp trong nhận thức khoa học, song Platon cho rằng nhờ quy nạp ta chỉ có thể nhận đƣợc những “ý kiến chân thực” mà không phải là tri thức. Theo Platon, tri thức (tổng thể những ý niệm) đã có sẵn và bất biến, quá trình nhận thức là quá trình tâm hồn con ngƣời hồi tƣởng lại những cái đã có mà thôi. Do đó quá trình nhận thức theo quan điểm của ông tách rời khỏi thế giới hiện tƣợng có thể nhận thức bằng cảm tính.
Điều đó xuất phát từ thế giới quan thể hiện trong học thuyết về hai thế giới của ông. Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, đối với Platon thì phƣơng pháp quy nạp có thể đƣợc xem một cách đơn thuần nhƣ là một con đƣờng nhận thức ngƣợc lại với diễn dịch. CN) - là học trò xuất sắc của Platon, song quan điểm triết học, lôgíc học của ông có những điểm khác với ngƣời thầy của mình về cơ bản.