Chương I: Cơ sở lý luận về Phân tích kỹ thuật trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Chương II: Thực trạng tình hình hoạt động đâu tư trên TTCK Việt Nam và việc áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật. Chương III: Giải pháp để áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật trong hoạt động đầu tư chứng khoán. _ CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUAT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT: 1.1 Sự cần thiết của việc ứng dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán: Trong đầu tư chứng khoán, chúng ta không thé mua bán theo cảm tính, cần có một hệ thống các nguyên tắc để lựa chọn những loại chứng khoán tốt nhất cũng như thời điểm hợp lý nhất để mua bán chúng.
Có rất nhiều người sau nhiều năm kinh doanh chứng khoán vẫn chưa hiểu thế nào là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật, hay gọi chung là phân tích chứng khoán , đa số họ mua bán theo cảm tính và không có một công cụ đầu tư hiéu qua. Sau 4 năm TTCK Việt Nam đi vào hoạt động, với qui mô thị trường còn nhỏ, hoạt động giao dịch trên thị trường hầu như chưa theo một phương pháp phân tích chứng khoán nào cả. Đối với người đầu tư, mua bán chứng khoán theo cảm tính, mua bán theo tâm lý đám đông là chủ yếu. Thị trường cũng thiếu hẳn những nhà đầu tư có tổ chức cũng như những nhà tư vấn chuyên nghiệp.
Có chăng một số ít các đối tượng tham gia trên thị trường cũng quan tâm một phần nhỏ đến tình hình tài chính các công ty mà họ tham gia mua bán, nhưng chỉ ở góc độ rất khiêm tốn, không theo đúng bài bản của một phương pháp phân tích cơ bản. Riêng phương pháp phân tích kỹ thuật hầu như chưa mấy ai quan tâm và ứng dụng nó vào thực tiến. Thực ra đây là một điều hết sức thiếu sót. Mục tiêu của bạn khi đầu tư cũng như nhà kinh doanh chứng khoán là để kiếm lợi nhuận.
Việc cần phải ứng dụng phương pháp kỹ thuật để phân tích và định giá chứng khoán được chính xác, sẽ đem lại hiệu quả cho người đầu tư cũng như nhà kinh doanh chứng khoán. Bởi vì trong khi phân tích kỹ thuật sẽ cho phép bạn thấy được mức quan tâm của người đầu tư, sức ép cung cầu trong thời điểm ngắn và trung hạn, để tìm kiếm những thời điểm thích hợp để bán hay mua cổ phiếu tạo khoản thu nhập cho nhà đầu tư hay nhà kinh doanh chứng khoán. Khai niệm: Để kiếm lời trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư cần hành động theo nguyên tắc “mua thấp, bán cao” mua chứng khoán khi giá giảm và bắt đầu lên, bán chứng khoán khi giá cao và bắt đầu xuống. Lý thuyết thì đơn giản nhưng áp dụng thì không phải dễ.
Trong khi các nhà phân tích cơ bản cố tìm những thông tin cho phép dự báo giá cổ phiếu thông qua việc xem xét, nghiên cứu bảng báo cáo tài chính của một doanh nghiệp (chẳng hạn như các thông tin về cổ tức, lợi nhuận, báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán), các đối thủ cạnh tranh, điều kiện môi trường kinh doanh, yếu tố vĩ mô. nhằm xác định một giá trị hợp lý của một loại cổ phiếu, hoặc các cổ phiếu trên thị trường nói chung thì phân tích kỹ thuật lại nghiên cứu các biểu đổ, thống kê về các diễn biến của giá và khối lượng giao dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế giá trong tương lai, nó giúp kiểm tra, theo đõi, nhận định về mức cung và cầu của chứng khoán. Tuy không phủ nhận giá trị của thông tin cơ bản, họ vẫn cho rằng giá cổ phiếu cuối cùng sẽ phù hợp với giá trị cơ bản của chúng, nhưng họ cho rằng giá cổ phiếu biến động có tính chất chu kỳ và theo những chiều hướng nhất định. Số liệu về giá và quy mô trước đây là những dấu hiệu biến động về giá trong tương lai.
Trước khi những thông tin được phản ánh vào giá cổ phiếu, họ tin rằng có thể khai thác được các xu hướng giá cả. Và vì vậy, cơ sở lý luận của họ là giá chứng khoán được quyết định bởi cung và cầu về chứng khoán. Mỗi khi có sự đổi hướng của giá cả là do sự chuyển biến từ từ về mức cung cầu. Do đó bằng việc lập biểu đổ các chỉ số tài chính trong quá khứ như giá cả, khối lượng giao dịch, chỉ số chung của thị trường chứng khoán thì có thể nhìn nhận về khuynh hướng chung của giá trong thời gian sắp tới mà không cần biết công ty đó sản xuất cái gì, làm ăn có lãi không.
Như vậy, “Phân tích kỹ thuật là khoa học ghỉ chép biểu đô dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được búc tranh về xu thế tương lai ”. Đồ thị là công cụ của nhà phân tích kỹ thuật. Đổ thị có thể biểu thị bất cứ sự việc xảy ra trên thị trường hoặc các chỉ số tính ra từ các đại lượng đó. Đồ thị có thể tính theo đơn vị tháng, tuân, ngày, giờ.
Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích kỹ thuật: Các nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích chứng khoán tiến hành việc phân tích chứng khoán nói chung hay phân tích kỹ thuật nói riêng nhằm vào nhiều mục đích khác nhau, nhưng tựu trung cũng không ngoài ba mục tiêu chính như: - _ Xác định giá trị chứng khoán. -_ Xác định giá mua và giá bán chứng khoán. -_ Xác định các yếu tố để ghép các chứng khoán vào đanh mục đầu tư. Các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các công thức toán học và đồ thị biểu diễn giá chứng khoán trong ngày hoặc trong tuần kết hợp khối lượng giao dịch của nó, thông thường việc phân tích kỹ thuật từ những thời điểm quá xa thường không chính xác.
Bằng cách sử dụng đồ thị bạn có thể xem xét liệu chứng khoán đang hoạt động bình thường hay bất thường, nó có đang được các tổ chức tài chính giao dịch hay không, và đâu là thời điểm để mua bán chứng khoán. Việc xác định thời điểm có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là tại các thị trường hay biến động và khi thực hiện chiến lược đầu tư ngắn hạn. Ngoài giá cả và khối lượng giao dịch, nhà phân tích kỹ thuật còn sử dụng các số liệu đường biểu diễn giá trung bình 50 ngày, 200 ngày để phát hiện chiều hướng chung của thị trường, chỉ số sức mạnh tương đối (relative price strength rating) để xem xét cổ phiếu hoạt động tốt hay không, tỷ số tăng giảm (advance — decline) để đánh giá tình hình thị trường. Những nhà phân tích kỹ thuật giỏi có thể tiên đoán giá cổ phiếu trong thời gian gần dựa vào các dấu hiệu hiện tại của thị trường.
Với sự phổ biến của máy tính cá nhân và các phần mềm phân tích kỹ thuật cũng như khả năng truy cập dữ liệu từ xa hiện nay, người đầu tư cá nhân có thể dễ dàng có được các thông tin cần thiết về giá và khối lượng giao dịch để phục vụ mục đích phân tích kỹ thuật cho riêng mình.3 Những nguyên tắc quy định trong phân tích kỹ thuật: Theo Edward và Magee trong cuốn sách “Phân tích kỹ thuật các xu hướng của chứng khoán”, những nguyên tắc chính sau đây được coi là yếu tố quyết định trong phân tích kỹ thuật: - Thị giá các loại chứng khoán được quyết định bởi sự tương tác giữa cung và cầu các loại chứng khoán đó. - Mức cung và cầu bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, tâm lý. - Bat chap những giao động nhỏ trên thị trường, giá cả các loại chứng khoán thường có xu bướng duy trì ổn định qua một thời gian chấp nhận được ( gọi là thời kỳ giá lên hay xuống ổn định). - _ Các xu hướng biến động giá do dịch chuyển mức cung cầu ấn định.
-_ Các dịch chuyển cung và cầu, dù chúng xảy ra và biến động như thế nào đi nữa, vẫn có thể phát hiện bằng cách quan sát những biến đổi của các biểu đồ. - _ Một số dạng thức biểu đổ có xu hướng tự lặp lại. 12 NỘI DUNG CHÍNH CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT: 1.1 Các lý thuyết ứng dụng: Trong giới phân tích kỹ thuật, có một số quy tắc giao dịch kỹ thuật được biết đến và có rất nhiều cách suy diễn để áp dụng chúng. Thông thường các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng cùng lúc nhiều quy tắc khác nhau để đi đến quyết định đầu tư.
Có thể các quy tắc kỹ thuật chia thành nhiễu nhóm khác nhau. Nhóm bao gồm các kỹ thuật liên quan đến giá và khối lượng giao dịch một cách thuần túy, trong đó có lý thuyết Dow nổi tiếng và xưa nhất của thị trường chứng khoán. Để hiểu rõ hơn về các quy tắc cụ thể, trước hết hãy xem xét một chu kỳ biến động giá trên thị trường chứng khoán được minh họa bằng đường vẽ sau: Giá Đáy. Lý thuyết Dow ( Dow Theory): Mặc dù các diễn biến giá có ý nghĩa quan trọng, song hầu hết các quy tắc giao dịch kỹ thuật áp dụng cho thị trường nói chung hoặc cho từng cổ phiếu đêu xem xét cả sự biến động giá và biến động về khối lượng giao dịch tương ứng.
Vì các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng giá cổ phiếu thay đổi theo các xu thế được lặp lại, nên họ tìm cách dự đoán các xu thế tương lai trên cơ sở phân tích toàn diện xu thế giá trong quá khứ cùng với thay đổi khối lượng giao dịch. Có thể coi lý thuyết Dow là một lý thuyết khởi đầu trong các kỹ thuật liên quan đến giá và khối lượng giao dịch bởi vì đây là một trong những lý thuyết xuất hiện sớm nhất và cho đến nay vẫn là nền tảng của nhiều chỉ báo kỹ thuật. Charles Dow xuất bản The Wall Street Journal vào những năm cuối thế kỷ XIX. Ông mô tả giá cổ phiếu thay đổi theo các xu thế tương tự như chuyển động của nước.
Ông cho rằng có ba loại biến động giá theo thời gian: Thứ nhất, xu thế chính ( xu thế cấp 1) giống như thủy triểu ở đại dương. Đây là xu thế giá chứng khoán đài hạn thường có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm; Thứ hai, xu thế trung gian ( xu thế cấp 2) giống như các đợt sóng. Hiện tượng này xảy ra khi giá chứng khoán đi lệch khỏi xu thế chính của nó trong một khoảng thời gian ngắn.