Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển dịch mạnh mẽ từ phương pháp truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Môn Giáo dục công dân (GDCD) cấp trung học phổ thông (THPT) giữ vị trí nền tảng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nội dung phần "Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội" thuộc chương trình lớp 11 chứa đựng khối lượng tri thức lý luận có tính khái quát cao, khiến học sinh thường gặp khó khăn trong việc liên hệ với thực tiễn đời sống.

Tại địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc – một huyện trung du miền núi có diện tích 173,10 km² với quy mô 3.661 học sinh THPT vào năm 2018, trong đó riêng khối 11 có 1.087 học sinh – việc giảng dạy bộ môn GDCD vẫn tồn tại nhiều rào cản. Với đặc điểm hơn 90% học sinh xuất thân từ gia đình nông nghiệp, tư duy coi môn GDCD là môn phụ vẫn còn phổ biến, dẫn đến sự thiếu hụt động lực học tập và năng lực phản biện xã hội. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lý luận Chính trị (mã số 8140111) của tác giả Nguyễn Thị Sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Toàn tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên (năm 2019), đã tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học GDCD lớp 11 tại các trường THPT huyện Lập Thạch. Đề tài hướng tới việc xác lập quy trình giảng dạy khoa học, chuyển hóa tri thức lý luận thành các tình huống thực tiễn có mâu thuẫn nhận thức, từ đó nâng cao kết quả học tập và phát triển toàn diện năng lực tư duy độc lập cho học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và lý thuyết hoạt động nhận thức trong giáo dục học hiện đại. Luận văn kế thừa và phát triển hệ thống quan điểm về dạy học giải quyết vấn đề của các nhà sư phạm kinh điển như I.Ia. Lecne và M.I. Makhmutov, kết hợp với các nghiên cứu lý luận dạy học của các chuyên gia giáo dục Việt Nam như GS. Hà Thế Ngữ và GS. Nguyễn Ngọc Quang. Về bản chất, dạy học nêu vấn đề là quá trình giáo viên tổ chức đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa kiến thức đã biết và yêu cầu mới cần chiếm lĩnh, thôi thúc người học tự giác tìm tòi giải pháp.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 dạng tình huống có vấn đề đặc trưng trong môn GDCD: tình huống nghịch lý (xuất hiện sự trái ngược giữa hiện tượng thực tế và quan điểm lý luận), tình huống lựa chọn (đòi hỏi quyết định tối ưu giữa các giải pháp cùng có căn cứ), tình huống bác bỏ (yêu cầu phản bác luận điểm sai trái bằng lập luận khoa học) và tình huống giải thích bản chất (trả lời câu hỏi tại sao trước các hiện tượng chính trị - xã hội phức tạp). Đồng thời, mô hình nghiên cứu chuẩn hóa quy trình dạy học nêu vấn đề gồm 7 bước chặt chẽ: từ khâu nghiên cứu mục tiêu bài học, xây dựng tình huống, định hướng nhận thức, phân công nhiệm vụ nhóm, phân tích giải quyết vấn đề, chứng minh luận điểm, cho đến tổng kết và đánh giá kết quả.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu lý luận với phương pháp nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm sư phạm. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát xã hội học với cỡ mẫu gồm 150 học sinh khối 11 và 12 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn GDCD tại 4 trường THPT trên địa bàn huyện Lập Thạch (gồm THPT Triệu Thái, THPT Trần Nguyên Hãn, THPT Liễn Sơn và THPT Ngô Gia Tự). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng học sinh vùng nông thôn, thị trấn cũng như đội ngũ giáo viên có thâm niên công tác từ 1 đến trên 20 năm (trong tổng số 254 giáo viên THPT toàn huyện năm 2019 với 44 cán bộ có trình độ thạc sĩ).

Dữ liệu định lượng được phân tích bằng các công cụ thống kê mô tả và thống kê suy luận toán học trong giáo dục nhằm so sánh tần suất sử dụng phương pháp, mức độ hứng thú học tập và chất lượng điểm số giữa các nhóm. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích định lượng và thực nghiệm sư phạm đối chứng là nhằm kiểm định chính xác giả thuyết khoa học: việc vận dụng bài bản phương pháp nêu vấn đề sẽ tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng lực tư duy sáng tạo và kết quả học tập môn GDCD so với phương pháp dạy học thuyết trình truyền thống. Timeline nghiên cứu và thu thập số liệu thực tế được triển khai tập trung trong năm học 2018 - 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm trong luận văn đã chỉ ra 3 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, phương pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ưu thế áp đảo trong các giờ học GDCD tại địa bàn khảo sát. Số liệu điều tra trên 150 học sinh cho thấy phương pháp thuyết trình được giáo viên sử dụng với tỷ lệ lên tới 98,0% (147 ý kiến) và thảo luận nhóm đạt 85,3% (128 ý kiến). Đáng chú ý, 54,0% học sinh đánh giá bài giảng thiên nặng về lý thuyết suông và 50,7% nhận xét giáo viên rất ít liên hệ với các vấn đề thực tiễn của địa phương và đất nước. Tình trạng này khiến khoảng 42,0% đến 47,0% học sinh cảm thấy giờ học khô khan, đơn điệu, dẫn đến kết quả học tập học kỳ I năm học 2018 - 2019 của học sinh khối 11 có tỷ lệ xếp loại giỏi rất thấp: THPT Liễn Sơn chỉ đạt 2,13%, THPT Trần Nguyên Hãn đạt 2,14% và THPT Triệu Thái đạt 4,07%.

Thứ hai, việc áp dụng phương pháp nêu vấn đề của giáo viên còn mang tính hình thức. Kết quả khảo sát ghi nhận mặc dù trên 70,0% giáo viên có sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, nhưng chủ yếu dừng lại ở mức độ hỏi - đáp tái hiện kiến thức đơn giản, chưa tạo ra được các tình huống có vấn đề thực sự chứa đựng mâu thuẫn nhận thức để kích thích tư duy phản biện của học sinh.

Thứ ba, thực nghiệm sư phạm tại 3 trường THPT (Liễn Sơn, Ngô Gia Tự, Trần Nguyên Hãn) đã chứng minh tính ưu việt vượt trội của phương pháp nêu vấn đề được chuẩn hóa theo quy trình 7 bước. Tỷ lệ học sinh ở các lớp thực nghiệm thể hiện mức độ hứng thú học tập cao đạt 86,5%, vượt trội so với mức 48,2% ở các lớp đối chứng. Trong bài kiểm tra đánh giá 1 tiết, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi ở nhóm thực nghiệm đạt 78,4%, cao hơn 22,3% so với nhóm đối chứng (đạt 56,1%), đồng thời tỷ lệ điểm yếu kém ở nhóm thực nghiệm giảm mạnh xuống mức dưới 1,5% so với mức 7,8% ở nhóm đối chứng.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch rõ nét giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng khẳng định rằng khi học sinh được đặt vào trung tâm của các tình huống thực tiễn có vấn đề, tính thụ động và thói quen nghe - chép hoàn toàn bị triệt tiêu. Học sinh được kích thích nhu cầu giải quyết mâu thuẫn nhận thức, từ đó chủ động tự đọc tài liệu, làm việc nhóm và hình thành năng lực lập luận chính trị - xã hội.

Về mặt trình bày dữ liệu khoa học, kết quả này được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh phân phối tần số điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và đối chứng, cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu chuyển dịch mức độ hứng thú học tập của học sinh trước và sau khi can thiệp sư phạm. Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Đinh Thị Minh Nghĩa năm 2010 về phần Công dân với đạo đức tại Ninh Bình), luận văn của tác giả Nguyễn Thị Sự đã mở rộng phạm vi áp dụng thành công vào mảng kiến thức chính trị - xã hội phức tạp, chứng minh tính khả thi của phương pháp ngay cả ở các trường THPT thuộc khu vực nông thôn có điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD:

  1. Tổ chức tập huấn chuẩn hóa năng lực thiết kế bài giảng nêu vấn đề: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc cùng Ban Giám hiệu các trường THPT cần triển khai các đợt bồi dưỡng chuyên môn định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2020 - 2022. Mục tiêu là 100% giáo viên bộ môn GDCD nắm vững kỹ thuật xây dựng 4 dạng tình huống có vấn đề và vận dụng thành thạo tiến trình dạy học 7 bước.

  2. Xây dựng ngân hàng 50+ tình huống thực tiễn gắn với đời sống chính trị - xã hội: Tổ chuyên môn các trường THPT huyện Lập Thạch cần chủ trì biên soạn tài liệu bổ trợ tình huống thực tiễn địa phương (liên quan đến phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường làng nghề và thực thi pháp luật) hoàn thành trước năm 2021, nhằm cung cấp tư liệu phong phú cho giáo viên đổi mới giờ dạy.

  3. Đổi mới đồng bộ phương pháp kiểm tra và đánh giá năng lực: Giáo viên GDCD cần chuyển dịch cơ cấu đề kiểm tra định kỳ từ 100% câu hỏi lý thuyết ghi nhớ sang tích hợp ít nhất 40% câu hỏi xử lý tình huống thực tế và bài tập dự án. Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh khối 11 đạt điểm khá - giỏi toàn huyện lên trên 80,0% vào năm 2023.

  4. Nâng cấp cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Nhà trường cần đầu tư bổ sung trang thiết bị trình chiếu đa phương tiện cho 100% phòng học chuyên đề trước năm 2024, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên trình chiếu hình ảnh, phóng sự truyền hình làm chất liệu xây dựng tình huống có vấn đề sống động, giúp giảm tỷ lệ học sinh thụ động trong lớp xuống dưới 5,0%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý giáo dục tại các Sở, Phòng GD&ĐT và Ban Giám hiệu các trường THPT: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và tiêu chí đánh giá giờ dạy theo định hướng phát triển năng lực người học.

  2. Giáo viên THPT giảng dạy môn GDCD và môn Giáo dục kinh tế và pháp luật: Ứng dụng trực tiếp quy trình 7 bước thiết kế bài giảng và hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu để nâng cao chất lượng giờ học, kích thích hứng thú và năng lực phản biện của học sinh trên lớp.

  3. Giảng viên và sinh viên các trường đại học sư phạm chuyên ngành Lý luận Chính trị: Khai thác khung lý thuyết, phương pháp phân loại tình huống có vấn đề và các bảng số liệu thực chứng làm học liệu giảng dạy học phần Phương pháp dạy học bộ môn.

  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học giáo dục: Tham khảo quy trình thiết kế công cụ khảo sát xã hội học, phương pháp phân tích số liệu thực nghiệm sư phạm đối chứng và cấu trúc triển khai một luận văn thạc sĩ phương pháp dạy học chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp nêu vấn đề khác biệt như thế nào so với phương pháp phát vấn hỏi - đáp truyền thống? Phương pháp hỏi - đáp truyền thống thường chỉ yêu cầu học sinh tái hiện tri thức có sẵn trong sách giáo khoa với các câu hỏi đóng. Ngược lại, phương pháp nêu vấn đề đưa học sinh vào tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, đòi hỏi học sinh phải độc lập tư duy, vận dụng kiến thức liên môn và kỹ năng thực tế để phân tích và tìm kiếm giải pháp mới.

Tại sao phần Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội lớp 11 lại cần thiết phải áp dụng phương pháp nêu vấn đề? Phần kiến thức này có tính khái quát cao về nhà nước, dân chủ và các chính sách kinh tế - xã hội. Nếu chỉ thuyết trình, học sinh sẽ cảm thấy trừu tượng và xa rời thực tế (như 54,0% ý kiến khảo sát phản ánh). Phương pháp nêu vấn đề giúp đưa các sự kiện đời sống vào bài học, biến lý luận thành hành động nhận thức cụ thể.

Đặc điểm hơn 90% học sinh xuất thân nông thôn tại Lập Thạch ảnh hưởng thế nào đến việc áp dụng phương pháp? Học sinh nông thôn thường có tâm lý rụt rè khi phát biểu trước đám đông nhưng lại có trải nghiệm thực tế phong phú về đời sống nông nghiệp, làng nghề. Khi giáo viên thiết kế các tình huống gắn liền với địa phương, học sinh sẽ dễ dàng thấu hiểu, tự tin tham gia thảo luận nhóm và bộc lộ chính kiến.

Giáo viên cần đáp ứng những yêu cầu sư phạm nào để xây dựng tình huống có vấn đề hiệu quả? Giáo viên phải nắm vững mục tiêu bài học, có kiến thức sâu rộng về đời sống thời sự chính trị - xã hội và làm chủ kỹ năng điều phối lớp học. Tình huống đưa ra phải vừa sức với nhận thức của học sinh, chứa mâu thuẫn thực sự và để mở nhiều hướng giải quyết nhằm kích thích tranh biện đa chiều.

Làm thế nào để đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh trong giờ học nêu vấn đề? Việc kiểm tra, đánh giá cần phối hợp giữa đánh giá quá trình (tinh thần hợp tác nhóm, kỹ năng phản biện, lập luận giải quyết vấn đề) và đánh giá định kỳ qua bài viết. Đề kiểm tra phải tích hợp các câu hỏi mở xử lý tình huống thực tế để đo lường năng lực hành vi và phẩm chất công dân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phương pháp dạy học nêu vấn đề trong môn GDCD cấp THPT, định hình rõ 4 dạng tình huống có vấn đề điển hình.
  • Khảo sát thực trạng trên 150 học sinh và 12 giáo viên tại 4 trường THPT huyện Lập Thạch chỉ ra sự lạm dụng phương pháp thuyết trình (98,0%) và làm rõ nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập môn học còn hạn chế.
  • Đề xuất thành công quy trình 7 bước sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong thiết kế, tổ chức bài giảng và kiểm tra đánh giá môn GDCD phần chính trị - xã hội.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi vượt trội với 86,5% học sinh hứng thú học tập và tỷ lệ điểm khá - giỏi tăng thêm 22,3% so với phương pháp truyền thống.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ từ cấp quản lý đến giáo viên nhằm nhân rộng mô hình dạy học tích cực trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.

Quý thầy cô giáo, cán bộ quản lý và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo, áp dụng ngay quy trình dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn giảng dạy bộ môn để kiến tạo những giờ học sinh động, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.