MỞ ĐẦU Theo phân tích của các chuyên gia, tổng số ngƣời nhiễm HIV vẫn đang tiếp tục duy trì sự sống ngày càng đƣợc tăng cao là hệ quả của hai tác động chủ yếu. Một là số ngƣời nhiễm HIV hàng năm trên toàn cầu vẫn ở mức cao. Chỉ tính riêng năm 2008, thế giới vẫn có khoảng 2,7 triệu ngƣời mới nhiễm HIV. Hai là do kết quả tích cực của liệu pháp điều trị kháng virut (ARV) làm giảm số ngƣời tử vong, kéo dài sự sống cho ngƣời bệnh.
Đến tháng 12/2008 ƣớc tính khoảng 4 triệu ngƣời nhiễm HIV ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình đƣợc điều trị bằng thuốc kháng HIV, tăng lên 10 lần trong vòng 5 năm. HIV/AIDS đang là vấn đề lớn hiện nay trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Ở nƣớc ta Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều ca nhiễm HIV/AIDS nhất (Sau đó là Hội An, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh,. Chúng ta không chỉ ngăn chặn sự lây lan của bệnh mà còn điều trị hiệu quả để giảm nguy cơ tử vong kéo dài và cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời HIV/AIDS.
Trong điều trị thì kháng Retrovirut đóng vai trò rất lớn. Trƣớc đây nƣớc ta chƣa đầy đủ các loại thuốc Retrovirut nên thƣờng dùng đơn hóa hoặc phối hợp hai loại thuốc trong điều trị HIV/AIDS. Giờ có thể kết hợp 3 hoặc 4 loại thuốc trong những trƣờng hợp lâm sàng nặng hơn. Hiện nay, nƣớc ta đã sản xuất đƣợc thuốc chống HIV là Lamididrir (Lamivudine 150mg + Zidovudine 300mg).
Tuy nhiên phần lớn vẫn đang sử dụng thuốc kháng HIV theo chƣơng trình quốc gia đƣợc cấp [12] Để đảm bảo trong điều trị, an toàn trong sử dụng, việc quản lý chất lƣợng thuốc kháng HIV là rất cần thiết. Vì vậy cần có phƣơng pháp phân tích có độ tin cậy cao, nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát tốt chất lƣợng thuốc HIV. Cho tới nay sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là phƣơng pháp phân tích hóa lý đa số đƣợc sử dụng để định lƣợng các loại thuốc. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là độ lặp lại, độ chính xác và khả năng tách tốt.
Đồng thời thiết bị HPLC hiện đã 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc tích hợp với hầu hết các kỹ thuật hóa lý hiện có (phổ UV-VIS, phân tích điện hóa, MS, NMR,…) cho phép nâng cao độ nhạy và hạ thấp giới hạn phát hiện của phƣơng pháp. Tuy vậy, phƣơng pháp HPLC đòi hỏi sử dụng dung môi có độ tinh khiết cao, đắt tiền, có nhiều loại gây ảnh hƣởng xấu, gây ô nhiễm môi trƣờng. Đó là xuất phát điểm của việc lựa chọn và phát triển phƣơng pháp định lƣợng thuốc dựa trên kỹ thuật hóa lý khác thay thế cho HPLC mà chúng tôi thực hiện trong nghiên cứu này. Kỹ thuật tách mà chúng tôi lựa chọn làm cơ sở cho nghiên cứu này là điện di mao quản (CE) [15].
CE là phƣơng pháp mới đƣợc phát triển, tuy nhiên có nhiều ƣu điểm vƣợt trội là hiệu lực tách rất cao, kinh tế và đặc biệt là thời gian phân tích nhanh có thể đáp ứng không những cho phân tích trong phòng thí nghiệm mà còn phục vụ cho phân tích lâm sàng và trong sản xuất. Vì thế đây là kỹ thuật rất hữu hiệu để thay thế hay hỗ trợ HPLC trong nhiều lĩnh vực phân tích, trong đó có nghiên cứu về Dƣợc. Hơn nữa, chuyên luận chung về CE đã đƣợc quy định trong Dƣợc điển một số nƣớc nhƣ Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc…Tuy nhiên ở Việt Nam, CE chƣa đƣợc ứng dụng nhiều và kinh nghiệm ứng dụng trong phân tích dƣợc phẩm còn hạn chế. Do vậy chúng tôi nhận định hƣớng nghiên cứu của mình sẽ rất có ý nghĩa thực tiễn cho công tác nghiên cứu quản lý chất lƣợng thuốc ở nƣớc ta.
Từ những phân tích trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ứng dụng của phƣơng pháp điện di mao quản vào định lƣợng thuốc kháng HIV với đề tài: “Xây dựng phƣơng pháp định lƣợng một số hoạt chất kháng HIV trong thuốc bằng phƣơng pháp điện di mao quản”. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.Giới thiệu về các thuốc điều trị HIV Nhóm 1: thuốc ức chế men sao chép ngƣợc có gốc nucleosides (nucleoside reverse transcriptase inhibitors = NRTIs): Zidovudine (AZT, ZDV), Didanosine (DDI), Zalcitabine (DDC), Stavudine (D4T), Lamivudine (3TC), Abacavir (ABC), Tenofovir disoproxil fumarate. Nhóm 2: thuốc ức chế men sao chép ngƣợc không có gốc nucleosides (non- nucleoside reverse transcriptase inhibitors = NNRTIs): Nevirapine, Delavirdine, Effavirenz. Nhóm 3: là thuốc ức chế proteases (protease inhibitors = PIs): Indinavir, Ritonavir, Saquinavir, Nelfinavir, Amprenavir, Lopinavir.
Qua nghiên cứu, ngƣời ta thấy không nên đơn hóa trị liệu mà nên phối hợp các thuốc nhóm 1 với nhau và với một thuốc nhóm 2 hoặc với một thuốc nhóm 3 để đạt đƣợc hiệu quả điều trị cao. Phác đồ phối hợp Lamivudin, Zidovudin và Nevirapin trong điều trị Lamivudin và Zidovudin có cấu trúc tƣơng tự nucleosid có tác dụng kháng retrovirus bao gồm cả HIV-1 và HIV-2 do ức chế enzym phiên mã ngƣợc của virus. Hai thuốc này đƣợc sử dụng phối hợp trong liệu pháp kháng retrovirus để điều trị HIV. Bệnh nhân uống 3TC, AZT kết hợp Nevirapine trong 6 tháng cho kết quả khá khả quan.
Các chỉ số đánh giá tình trạng bệnh nhân đƣợc cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê. Ngƣời bệnh tăng cân, có số lƣợng tế bào lymphocyte tăng rõ rệt (từ 1273/mm3 lên 1547/mm3), số lƣợng tế bào CD4 từ 70/mm3 lên 145/mm3 làm cho số lƣợng tế bào CD4 bị phá hủy giảm đi. Nhƣ vậy, phác đồ D4T/3TC/NVP có thể khống chế sự phát triển của virus. Liệu pháp kháng retrovirus làm tăng thời gian sống sót của ngƣời bệnh có số lƣợng tế bào CD4 dƣới 500 trong 1mm3.
Liệu pháp này cũng có thể dùng cho những ngƣời bệnh có mật độ virus HIV trên 30000/ml huyết tƣơng, không phụ thuộc vào số lƣợng tế bào CD4, vì mật độ HIV là một yếu tố tiên lƣợng sự tiến triển của bệnh [12]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liều dùng dựa trên thể trọng và tuổi của ngƣời bệnh, bệnh lý mắc kèm. 150mg 3TC, 30mg d4T ngày hai lần và NVP 200mg ngày một lần trong hai tuần đầu sau đó NVR 200mg ngày hai lần cho ngƣời cân nặng dƣới 60kg với ngƣời lớn và thiếu niên trên 16 tuổi kể cả phụ nữ có thai, trẻ em, bệnh nhân lao và bệnh nhân đồng nhiễm viêm gan B * Lamivudin: (3TC) Công thức phân tử: C8H11N3O3S. Phân tử lƣợng 229,3.
Tên khoa học: 4-amino-1[2-(hydroxymethyl)-1,3- oxathiolan-5- yl]-2(1H) pyrimidinon Tính chất: Là bột kết tinh màu trắng. Nhiệt độ nóng chảy: 1600-1620C. Dễ tan trong nƣớc, ít tan trong cồn, khó tan trong các dung môi hữu cơ. Năng suất quay cực: [α]21D = - 1350 ( C = 0,38 % trong methanol ) Hằng số pKa= 3,31.
Lamivudin hấp thụ UV ở bƣớc sóng hấp thụ cực đại là 278nm; A1%1cm trong H+ 1M ~ 600 abs Sau khi uống Lamivudin khoảng 1giờ, sinh khả dụng 80%, không bị ảnh hƣởng bởi thức ăn. Đạt Tmax khoảng 1h sau khi dùng thuốc. Nồng độ đỉnh sau khi uống 150mg là khoảng 1,5μg/ml. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com *Zidovudin: (AZT) Công thức phân tử C10H13N5O4.
Phân tử lƣợng 267. Tên khoa học: 1-[(2R,4S,5S)-4-azido-5-(hydroxymethyl) oxolan-2-yl]-5-methylpyrimidine-2,4- dione Tính chất : Tinh thể trắng hoặc hơi nâu. Nhiệt độ nóng chảy: ~ 1240C. Khó tan trong nƣớc, ít tan trong cồn.
Năng suất quay cực + 60,50 → + 63,00 ( C = 1% trong EtOH) ; + 990 (C = 0,5% trong nƣớc) Hằng số pKa= 9,36 Sau khi uống Zidovudin khoảng 0,5- 1giờ, sinh khả dụng 60-70%, bị ảnh hƣởng khi ăn nhiều chất béo. Đạt Tmax khoảng 1h sau khi dùng thuốc. Nồng độ đỉnh sau khi uống 250mg là khoảng 1,2 μg/ml. *Nevirapin (NVP) Công thức phân tử C15H14N4O.
Phân tử lƣợng 266. Tên khoa học: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11-cyclopropyl-4-methyl-5,11-dihydro-6H- dipyrido[3,2-b:2′,3′-e][1,4]diazepin-6- one Tính chất : Bột kết tinh màu trắng hoặc gần nhƣ trắng. Thực tế không tan trong nƣớc, ít tan trong CH3Cl. Năng suất quay cực + 60,50 → + 63,00 ( C = 1% trong EtOH) ; + 990 (C = 0,5% trong nƣớc) Hằng số pKa= 2,42.
Sau khi uống Nevirapin khoảng 4 giờ, sinh khả dụng > 90%, không bị ảnh hƣởng bởi thức ăn hoặc thuốc kháng acid. Đạt Tmax khoảng 4h sau khi dùng liều duy nhất. Tình hình sử dụng thuốc HIV ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay Tính đến 31/5/2012, trên toàn quốc có 66.191 ngƣời nhiễm HIV trong đó có 62.654 ngƣời lớn và 3.537 trẻ em, đạt 94,6% kế hoạch năm 2012. Kết quả báo cáo tại 10 tỉnh có số ngƣời đƣợc điều trị cao nhất là 46.332 bệnh nhân, chiếm 70% số ngƣời nhiễm HIV đang đƣợc điều trị trên toàn quốc.
Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục là thành phố dẫn đầu cả nƣớc về số lƣợng ngƣời nhiễm HIV đang điều trị. Tính đến 31/5/2012, thành phố Hồ Chí Minh có 20.435 ngƣời nhiễm HIV đang điều trị, chiếm 30,9% số lƣợng bệnh nhân đang điều trị trên toàn quốc[10]. Tốc độ tăng trƣởng bệnh nhân điều trị ARV trung bình là 950 bệnh nhân/tháng. Phác đồ bậc 1 chiếm đa số với tỷ lệ là 96,76%, phác đồ bậc 2 là 2,97% và có 0,27% thuộc phác đồ khác.
- Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Y tế tại Quyết định số 4139/QĐ-BYT ngày 26/11/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung “Hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS” đƣợc ban hành kèm theo Quyết định số 3003/QĐ- BYT ngày 19/8/2009 của Bộ trƣởng Bộ Y tế, Cục Phòng, chống HIV/AIDS đã ban hành các văn bản hƣớng dẫn về việc điều trị bằng thuốc ARV tại các địa phƣơng với các nội dung chính nhƣ sau: - Bệnh nhân bắt đầu điều trị ARV: Phác đồ chỉ định là TDF/3TC/EFV hoặc TDF/3TC/NVP. Không sử dụng phác đồ có Stavudin (d4T) cho các bệnh nhân bắt đầu điều trị ARV. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đối với bệnh nhân đang điều trị ARV với phác đồ có Stavudin (d4T): thay thế dần tiến đến loại trừ việc sử dụng thuốc d4T vào tháng 6/2013. Thuốc d4T chủ yếu đƣợc chuyển đổi sang phác đồ có TDF hoặc AZT.
Hiện nay Cục Phòng, chống HIV/AIDS đang điều phối toàn bộ các nguồn thuốc ARV do các chƣơng trình, dự án hỗ trợ để cung cấp thuốc ARV điều trị cho bệnh nhân trên toàn quốc. Phối hợp chặt chẽ với các đối tác trong việc nhập khẩu các dạng bào chế mới của thuốc ARV nhằm tăng cƣờng sự tuân thủ điều trị ở ngƣời bệnh đặc biệt việc mua thuốc viên kết hợp 3 loại thuốc TDF/3TC/EFV ngày uống 1 lần.